vanban.org

Bản án 55/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 22/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 27/4/2019). Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C bị truy tố tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HS-ST
Ngày 22/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tòng Văn Quân.

2. Bà Nguyễn Thị Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm công khai thụ lý số: 51/2019/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn C (tên gọi khác: Không), sinh năm 1968 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: 1/10 PT; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N (đã chết) và bà Lò Thị S, sinh năm 1935; vợ: Lò Thị M, sinh năm 1973 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/4/2019 đến 30/4/2019; tạm giam từ ngày 30/4/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 27/4/2019, Tổ công tác công an xã P phối hợp với công an xã K làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã P, huyện Đ phát hiện Lò Văn C đang điều khiển xe máy biển kiểm sát 27U1-056.28 đi từ hướng xã P về xã G, tổ công tác yêu cầu C dừng xe kiểm tra thì phát hiện trong túi áo khoác ngoài bên trái có một gói chất bột trắng ( nghi là Heroin) và 100 viên nén màu hồng có in chữ WY (nghi là ma túy tổng hợp). Lò Văn C khai nhận là ma túy do C và Mòng Văn M đi mua của một người đàn ông dân tộc Mông ở khu vực biên giới Việt - Lào thuộc địa phận xã M, huyện Đ với số tiền 3.500.000đ vào ngày 26/4/2019. Mục đích đi mua số ma túy trên là về bán lẻ kiếm lời.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy hồi 15 giờ 45 phút ngày 27/4/2019 xác định gói chất bột trắng thu giữ của Lò Văn C có khối lượng là 10,85 gam, trích 0,12 gam gửi đi giám định; 100 viên nén màu hồng có khối lượng là 9,9 gam, trích 0,18 gam gửi đi giám định.

Tại kết luận giám định số: 464/GĐ-PC09 ngày 05/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 0,12 gam chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine và 0,18 gam viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Đây là những chất ma túy được quy định trong Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Trong quá trình điều tra xác định Mòng Văn M, sinh năm 1973, trú tại bản C, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, M khai cùng với Lò Văn C đi mua ma túy để sử dụng, số ma túy Mòng Văn M đi mua về đã sử dụng hết, M không biết Lò Văn C mua được bao nhiêu ma túy và về mục đích để bán cho nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ chưa có đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Mòng Văn M.

Vật chứng thu giữ được trong vụ án gồm có 10,85 gam Heroine; 9,9 gam Methamphetamine; hai điện thoại di động nhãn hiệu itel; một xe máy sirius biển kiểm soát 27U1-056.28 và giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Lò Thị Q; một giấy phép lái xe và một chứng minh thư nhân dân đều mang tên Lò Văn C.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 17 và số 18 ngày 21/8/2019 trả lại cho chị Lò Thị M ( vợ bị cáo) quản lý xe máy sirius cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; một điện thoại itel; một giấy phép lái xe và một chứng minh thư nhân dân mang tên Lò Văn C.

Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS-ĐBĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn C cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 10 năm 6 tháng đến 11 năm tù. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine và Methamphetamine còn lại sau giám định; Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Xét về hành vi của bị cáo Lò Văn C thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn C khai nhận ngày 26/4/2019, Mòng Văn M rủ bị cáo đi mua ma túy, bị cáo đã cùng với Mòng Văn M đi đến khu vực biên giới Việt - Lào thuộc địa phận xã M, huyện Đ vào nhà một người dân tộc Mông, bị cáo có đưa cho bị cáo M 3.500.000đ để mua ma túy và sau khi M trao đổi mua được ma túy đã chia cho bị cáo. Số ma túy của bị cáo bị bắt giữ xác định khối lượng gồm 10,85gam Heroine và 9,9 gam Methamphetamine. Mục đích mua ma túy trên về bán lẻ kiếm lời.

Mặc dù, cơ quan điều tra chưa đấu tranh làm rõ để xử lý Mòng Văn M nhưng với lời khai nhận tội trên của bị cáo Lò Văn C, cùng với chứng cứ thu giữ được, tổng khối lượng hai chất ma túy là 20,75 gam đã đủ để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lò Văn C đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và là người người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất ổn định trật tự an toàn xã hội, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mua bán trái phép tổng 20,75 gam ma túy. Hành vi của bị cáo Lò Văn C đã phạm vào tội " Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lò Văn C là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo được tặng kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe những ai đang có tư tưởng phạm tội như bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề xuất mức hình phạt từ 10 năm 6 tháng đến 11 năm tù là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại tại Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghịệp bị cáo làm nương, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy còn lại sau giám định là 10,73 gam Heroine và 9,72 gam Methamphetamine là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel thu của bị cáo Lò Văn C dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, được xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 17 ngày 21/8/2019 trả lại cho chị Lò Thị M (vợ bị cáo) quản lý xe máy sirius, biển kiểm soát 27U1-056.28; một điện thoại di động itel và giấy chứng nhận đăng ký xe vì đây là tài sản riêng của chị M, khi bị cáo dùng vào việc phạm tội chị M không biết và Quyết định số 18 ngày 21/8/2019 trả lại một giấy phép lái xe và một chứng minh thư nhân dân mang tên Lò Văn C là những giấy tờ nhân thân của bị cáo C cho vợ bị cáo quản lý là phù hợp, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử hôm nay bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Mòng Văn M, sinh năm 1973, trú tại bản C, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có cùng với Lò Văn C đi mua ma túy, nhưng số ma túy Mòng Văn M đi mua về đã sử dụng hết, M không biết Lò Văn C mua được bao nhiêu ma túy và về mục đích để bán cho nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ chưa đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Mòng Văn M, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc hộ nghèo, có giấy chứng nhận hộ nghèo số 65/GCN ngày 1/1/2019. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm p Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 27/4/2019).

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu hủy 10,73 gam Heroine và 9,72 gam Methamphetamine.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel

Đặc điểm cụ thể của những vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 23/9/2019 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/10/2019).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ