vanban.org

Bản án 55/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2018. Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HS-ST
Ngày: 12/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Văn Thanh.

- Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Nguyễn Thị Ngọc Ph; bị cáo chưa có vợ con, tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 16/12/2018 cho đến nay (có mặt).

Người bị hại: Ông Nguyễn Thế V, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16 tháng 12 năm 2018, Nguyễn Hoàng T đi bộ trên đường Nguyễn Văn Khạ hướng về Tỉnh lộ 2 đến cầu Kênh N31A thì nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 71B1-992.27 để trên bờ kênh, trên xe có gắn sẵn chìa khóa. T quan sát thấy không có ai nên đã ngồi lên xe, đá chóng xe định chạy đi thì bị ông Nguyễn Thế V là chủ xe phát hiện truy hô, T điều khiển xe vừa trộm được để tẩu thoát thì bị quần chúng bao vây bắt được.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Củ Chi ngày 18 tháng 12 năm 2019 kết luận 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 71B1-992.27 trị giá 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.

Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, đồng thời tỏ ra ăn năn hối cải.

Người bị hại, ông Nguyễn Thế V vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra người bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm và không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: không có yêu cầu.

Bị cáo Nguyễn Hoàng T nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận và biết lỗi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét người bị hại vắng mặt, nhưng sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.

Bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy hiệu Honda Vision, biển số 71B1-992.27, màu trắng, số máy F33E-0471682, số khung 3310DY391540 của ông Nguyễn Thế Vinh trị giá 17.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, với phương thức lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái, phạm pháp, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thoả mãn động cơ tư lợi riêng của cá nhân của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân xấu, năm 2016 đã bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản, do chưa đủ 18 tuổi nên được xem là chưa có tiền án, nhưng Hội đồng xét xử thấy đây là tình tiết để cân nhắc khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên không xét.

Về vật chứng vụ án: đã trả cho chủ sở hữu nên không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2018.

- Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ