vanban.org

Bản án 55/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 27/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Triều T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Triều T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm (ngày 27/11/2019) theo Quyết định bắt, tạm giam của Hội đồng xét xử sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự: Ngô Thanh S không yêu cầu, chị Phạm Thị S và bị cáo đã thỏa thuận bồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 55/2019/HS-ST Tuyên án 27/11/2019
Phúc thẩm Bản án 15/2020/HS-PT Tuyên án 27/02/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Triều T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 1…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Triều T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HS-ST
Ngày 27/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại;

- Các Hội thẩm nhân dân: Bùi Tấn Sinh và ông Bùi Tấn Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại Phòng xử án – Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN TRIỀU T(Tên gọi khác: Út T) - Sinh ngày 05/5/1994 tại tỉnh Quảng Ngãi;

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Việt T và con bà Phạm Thị Th; Đều cư trú tại: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Vợ, con: chưa có.

Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án; bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 06/2014/HS-ST ngày 18/02/2014, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/01/2019, chưa được xóa án tích.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Ngô Thanh S, sinh năm 1992;

Nơi cư trú: thôn N, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1991; Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Chị Phạm Thị S, sinh năm 1983; Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Ông Nguyễn Việt T, sinh năm 1970; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

Người làm chứng:

+ Chị Đỗ Thị Minh Th, sinh năm 1992; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Anh Phạm Đình Ch, sinh năm 1995; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1992; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Anh Cao Ngọc B, sinh năm 1990; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú : thôn P, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Anh Huỳnh Nhật V, sinh năm 1989; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 1988; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

+ Anh Trần Minh H, sinh năm 1992; Vắng mặt không lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Quán nhậu “Thuyền Vũ” do chị Đỗ Thị Minh Th làm chủ và quán nhậu “Thuận Sa” do chị Phạm Thị S làm chủ, hai quán nhậu này liền kề nhau tại Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/5/2019, Ngô Thanh S nhậu tại quán “Thuyền Vũ” cùng với bạn gồm: Trần Minh H, Huỳnh Nhật V, Nguyễn Quang V, Trịnh Vũ Tr, sinh năm 1991, ở thôn G, xã B, huyện S(hiện đang sinh sống tại Mỹ) và Nguyễn Triều T nhậu tại quán “Thuận Sa” cùng với Nguyễn Trung H, Cao Ngọc B và Lê Phúc H (đều có địa chỉ như trên). Trong lúc đang ngồi nhậu thì Nguyễn Triều T nghe bên bàn của Ngô Thanh S nói “Nghĩ sao tướng nó vậy, tướng tao vậy mà nó đòi rủ tao đánh tay đôi”. Do có mâu thuẫn từ trước nên Nguyễn Triều T ấm ức, nghĩ Ngô Thanh S nói khích mình nên Nguyễn Triều T rời quán, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-563.XX đi tìm hung khí để quay lại đánh Ngô Thanh S. Trên đường đi tìm hung khí, Nguyễn Triều T thấy Phạm Công N (thường gọi là N), sinh năm 1994, ở tại thôn T, xã B đang ngồi nhậu tại quán “Tuấn Kiệt” ở tổ dân phố X, thị trấn C nên Nguyễn Triều T gọi Phạm Công N ra ngoài và kể lại sự việc cho Phạm Công N nghe và nhờ N giúp đỡ Nguyễn Triều T nói với Phạm Công N “bây giờ bạn giúp tôi được không” thì Phạm Công N trả lời “bạn nhờ thì mình giúp thôi”. Sau đó, Nguyễn Triều T điều khiển xe mô tô chở Phạm Công N đến nhà trọ của Lê Văn Đ ở tại thôn A, xã B, huyện S để lấy hung khí. Khi đến phòng trọ thì Lê Văn Đ đi vắng, do biết chỗ để chìa khóa phòng trọ của Lê Văn Đ nên Nguyễn Triều T đã tự mở cửa và lấy 02 cây “kiếm ráp” (phần lưỡi và phần cán có thể tháo rời và gắn lại). Sau đó, Nguyễn Triều T đưa cho Phạm Công N một cây, Nguyễn Triều T cầm một cây. Nguyễn Triều T chở Phạm Công N quay lại gần quán “Thuyền Vũ” thì dừng xe ngoài đường và nói với Phạm Công N “Mày ở đây có gì hỗ trợ tao, mục đích của tao chỉ nhắm thằng S thôi, đừng chém thằng nào hết nha”, Phạm Công N trả lời “OK”. Sau đó, Nguyễn Triều T cầm một cây “kiếm ráp” đi vòng đến phía sau lưng Ngô Thanh S đang ngồi nhậu rồi dùng cây “kiếm ráp” dơ lên chém Ngô Thanh S. Cùng lúc này, Nguyễn Quang V thấy Nguyễn Triều T đang chuẩn bị chém nên tri hô cho Ngô Thanh S biết. Ngô Thanh S đưa tay trái lên đỡ thì bị Nguyễn Triều T chém trúng vào khuỷu tay trái làm phần lưỡi của cây “kiếm ráp” văng ra khỏi cán, dẫn đến Ngô Thanh S bị thương tích. Sau đó, Ngô Thanh S chạy ra xe ô tô của Ngô Thanh S để trước quán “Thuyền Vũ” lấy ra 01 cây gậy bóng chày bằng sắt chạy vào đánh lại Nguyễn Triều T nhưng không gây thương tích làm gậy bóng chày bị rơi xuống bờ taly. Khi đó, Nguyễn Triều T tiếp tục đuổi đánh Ngô Thanh S thì Cao Ngọc B và Trần Minh H can ngăn nên Ngô Thanh S chạy thoát. Sau khi Nguyễn Triều T và Phạm Công N bỏ đi, Ngô Thanh S quay lại quán Thuyền Vũ thì thấy phần lưỡi cây “kiếm ráp” nằm dưới đất nên cầm đến Công an thị Trấn C trình báo sự việc, giao nộp phần lưỡi cây kiếm rồi đến Bệnh viện đa khoa huyện S điều trị thương tích.

Tại Bản kết luận giám định số 104/TgT ngày 21/6/2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Ngô Thanh S hiện tại là 02% (Hai phần trăm). Tổn thương phù hợp vật sắc gây thương tích.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Triều T khai nhận đúng hành vi phạm tội của mình như trên và thừa nhận đã dùng hung khí là kiếm (loại kiếm ráp) gây thương tích cho bị hại Ngô Thanh S, vết thương trên cơ thể của bị hại Ngô Thanh S là do bị cáo gây ra.

Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKS, ngày 30/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Triều T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Triều T về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.

Đối với Phạm Công N, ngày 30/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn khởi tố Phạm Công Nam, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, do Phạm Công N bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với Lê Văn Đ; Nguyễn Triều T và Phạm Công N sử dụng 02 cây kiếm (loại kiếm ráp) chém Ngô Thanh S thì Lê Văn Đ hoàn toàn không biết vì Nguyễn Triều T tự ý đến nhà trọ Lê Văn Đ lấy kiếm trong lúc Lê Văn Đ không có ở nhà nên không đặt vấn đề xử lý hình sự đối với Lê Văn Đ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Về hành vi tàng trữ 02 cây kiếm của Lê Văn Đ đã vi phạm tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn có công văn đề nghị Công an xã B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Ngô Thanh S không yêu cầu bị cáo Nguyễn Triều T bồi thường nên không xem xét.

Chị Phạm Thị S và Nguyễn Triều T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, chị S đã nhận tiền xong không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) lưỡi cây kiếm ráp màu trắng dài 49cm; phần cán tròn đường kính 2,5cm, dài 14,5cm, giữa phần cán có một khoanh nhựa màu đen dài 4,5cm; phần lưỡi dài 34,5cm, mũi nhọn, bề rộng lưỡi kiếm 2cm, trên lưỡi kiếm có dòng chữ BATON SWORD đây là phần lưỡi cây kiếm ráp được Nguyễn Triều T sử dụng chém Ngô Thanh S đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 76C1-563.XX mà Nguyễn Triều T và Phạm Công N sử dụng đi lại vào ngày 23/5/2019 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Việt T (cha bị cáo T). Ông Nguyễn Việt T không biết bị cáo T sử dụng đi lại để gây thương tích cho Ngô Thanh S. Mặt khác, xe mô tô 76C1-563.XX được Nguyễn Triều T và Phạm Công N sử dụng đi lại, không phải phương tiện gây án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn không tạm giữ là đúng quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với phần cán cây kiếm ráp mà Nguyễn Triều T dùng để chém bị hại, Nguyễn Triều T khai vứt bỏ ở sông T đoạn gần cầu C, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn đã truy tìm nhưng không tìm thấy; đối với cây kiếm Phạm Công N sử dụng, hiện Phạm Công N bỏ trốn chưa làm việc được nên chưa thể thu giữ; cây gậy bóng chày bằng sắt do Ngô Thanh S dùng Nguyễn Triều T đã bị rơi xuống taly khu vực sông Trà Bồng nơi xảy ra đánh nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy nên không thu giữ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo không bào chữa, không tranh luận về điều luật áp dụng, tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn. Riêng mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn đề nghị là nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.

Ý kiến của bị hại: Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 19/11/2019, Anh Ngô Thanh S không yêu cầu bị cáo bồi thường; về phần hình phạt yêu cầu xử nghiêm bị cáo vì hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết sai nhưng vì quá say nên không làm chủ được hành vi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thu thập và người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân là có căn cứ và phù hợp. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Triều T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Bị cáo Nguyễn Triều T và Anh Ngô Thanh S có quan hệ quen biết. Trước ngày 23/5/2019, giữa bị cáo và Sang có mâu thuẫn nhưng chỉ do hiểu lầm, đã được hòa giải nên không có mâu thuẫn gì gay gắt.

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/5/2019, bị cáo Nguyễn Triều T ngồi nhậu cùng với Nguyễn Trung H, Cao Ngọc B và Lê Phúc H tại quán “Thuận Sa” ở Bờ Kè Bắc thuộc Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện S. Ngô Thanh S cũng ngồi nhậu cùng một số người khác tại quán “Thuyền Vũ” liền kề quán “Thuận Sa”. Bị cáo nghe Ngô Thanh S nói “Nghĩ sao tướng nó vậy, tướng tao vậy mà nó đòi rủ tao đánh tay đôi”. Bị cáo Nguyễn Triều T nghĩ Ngô Thanh S đang nói khích mình nên bị cáo nảy sinh ý định đánh S.

Ngay lúc đó, bị cáo Nguyễn Triều T rời quán nhậu và điều khiển xe mô tô BKS 76C1-563.XX đi đến nhà trọ của Lê Văn Đ mục đích mượn hung khí đánh Ngô Thanh S. Trên đường đi tìm hung khí, Nguyễn Triều T gặp Phạm Công N (thường gọi là N) nên kể lại sự việc cho Phạm Công N nghe và nhờ N tham gia hỗ trợ bị cáo đánh Ngô Thanh S. Phạm Công N đồng ý cùng đi. Bị cáo Ti điều khiển xe mô tô chở Phạm Công N đến nhà trọ của Lê Văn Đ để lấy hung khí, khi đến nơi Đ không có ở nhà. Vì biết vị trí Lê Văn Đ cất giấu kiếm trong nhà nên bị cáo T tự ý vào phòng trọ của Đ lấy 02 cây kiếm (loại kiếm ráp). Nguyễn Triều T cầm một cây kiếm và đưa cho Phạm Công N cầm một cây kiếm và cùng quay lại quán Thuyền Vũ. Đến nơi, Phạm Công N cầm một cây kiếm đứng trước quán, còn bị cáo T cầm một cây kiếm vào trong quán “Thuyền Vũ” đi vòng ra phía sau lưng Ngô Thanh S đang ngồi nhậu và dơ kiếm lên mục đích chém vào lưng Ngô Thanh S, nhưng vì S phát hiện đứng dậy dùng tay đỡ nên lưỡi kiếm trúng vào khuỷu tay trái của Ngô Thanh S dẫn đến bị thương tích, lưỡi kiếm văng ra khỏi cán. Bị cáo dùng hung khí chém Ngô Thanh S chỉ nhằm mục đích đe dọa, không có chủ ý gây nguy hiểm cho tính mạng của Sang. Ngô Thanh S có dùng ghế nhựa đánh lại bị cáo nhưng không bị thương tích nặng. Sau đó, Ngô Thanh S chạy ra xe ô tô của Sang lấy 01 cây gậy bằng sắt đánh lại bị cáo Tiến làm cây gậy rơi xuống bờ taly. Tiếp sau đó, Nguyễn Triều T đuổi đánh Ngô Thanh S nhưng S chạy thoát. Nguyễn Triều T và Phạm Công N bỏ đi.

Bị cáo thừa nhận vết thương tại khuỷu tay trái của Ngô Thanh S chính là do bị cáo gây ra bằng hung khí là cây kiếm ráp mà bị cáo lấy tại nhà Lê Văn Đ như khai nhận trên. Cây kiếm ráp do Cơ quan điều tra – Công an huyện Bình Sơn đã thu giữ đúng là hung khí do bị cáo dùng chém anh S. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã nhận dạng cây kiếm này và đúng là hung khí bị cáo dùng để chém Ngô Thanh S. Đối với Phạm Công N có đánh Ngô Thanh S hay không thì bị cáo không nhìn thấy rõ.

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Triều T phù hợp với lời khai của bị hại Ngô Thanh S, người có quyền nghĩa vụ liên quan Lê Văn Đ, người làm chứng; Biên bản nhận dạng vật chứng của bị cáo T và Lê Văn Đ; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Triều T dùng hung khí nguy hiểm (cây kiếm ráp) gây tổn thương cơ thể cho bị hại Ngô Thanh Sang tỷ lệ 02%, hành vi của bị cáo Nguyễn Triều T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội do bị cáo Nguyễn Triều T gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của Ngô Thanh S. Qua xem xét lời khai của bị cáo, bị hại, kết luận giám định, biên bản nhận dạng vật chứng thì vết thương trên cơ thể bị hại có 01 vết thương ở phần khủy tay trái, bị cáo và bị hại đều khai bị cáo dùng kiếm (vật sắc, nhọn) gây thương tích cho bị hại ở khủy tay trái là có cơ sở. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là gây thương tích cho bị hại do tức giận vì cho rằng bị hại nói khích và thách đố với bị cáo nên đã nảy sinh ý định đi tìm hung khí đánh Ngô Thanh S.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi nhưng xem thường pháp luật, không những xâm phạm sức khỏe của anh S mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa bàn thị trấn C nói riêng và huyện S nói chung; chỉ vì cho rằng anh S có lời nói thách đố mình mà bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho sức khỏe của bị hại, bất chấp hậu quả xảy ra cho người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không những chuẩn bị trước công cụ phạm tội (hung khí nguy hiểm) mà rủ thêm Phạm Công N hỗ trợ cho bị cáo và cùng thực hiện hành vi đánh, chém Ngô Thanh S; tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện cố ý, mang tính nguy hiểm, nếu không có sự phản kháng, chống đỡ kịp thời của anh S thì hậu quả có thể xảy ra nghiêm trọng hơn. Bị cáo đã từng bị cải tạo phạt tù nhưng không biết ăn năn, hối cải, vừa chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 01/2019 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự do bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 06/2014/HSST, ngày 18/2/2014; đã chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Đối trừ tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng nên bị cáo không còn tình tiết giảm nhẹ, nhưng xét hậu quả và thiệt hại xảy ra chưa nghiêm trọng cho sức khỏe cho anh S (tổn thương cơ thể 02%) nên cũng cần xem xét mức án tương xứng với hậu quả xảy ra.

Đối với Phạm Công N, ngày 30/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Sau khi gây án, Phạm Công N bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với Lê Văn Đôn, việc Nguyễn Triều T và Phạm Công N sử dụng 02 cây kiếm chém Ngô Thanh S thì Lê Văn Đ không biết vì Nguyễn Triều T tự ý vào nhà trọ của Đ lấy, lúc đó Đ không có ở nhà nên vấn đề hình sự không đặt vấn đề xử lý đối với Lê Văn Đ là có căn cứ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn có công văn đề nghị Công an xã B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ 02 cây kiếm theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Thanh S không yêu cầu bị cáo bồi thường và người có quyền, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị S và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai có yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Một (01) lưỡi cây kiếm ráp màu trắng dài 49cm; phần cán tròn đường kính 2,5cm, dài 14,5cm, giữa phần cán có một khoanh nhựa màu đen dài 4,5cm; phần lưỡi dài 34,5cm, mũi nhọn, bề rộng lưỡi kiếm 2cm, trên lưỡi kiếm có dòng chữ BATON SWORD đây là phần lưỡi cây kiếm được Nguyễn Triều T sử dụng chém Ngô Thanh S nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

Xe mô tô biển kiểm soát 76C1-563.65 mà Nguyễn Triều T và Phạm Công N sử dụng đi lại vào ngày 23/5/2019 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Việt T (cha Nguyễn Triều T). Ông Nguyễn Việt T không biết bị cáo T sử dụng đi lại để gây thương tích cho Ngô Thanh S. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn không tạm giữ chiếc xe này là đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết.

Đối với phần cán cây kiếm mà Nguyễn Triều T dùng để chém bị hại, Nguyễn Triều T khai đã vứt bỏ ở sông T đoạn gần cầu C, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn đã truy tìm nhưng không phát hiện; cây kiếm mà Phạm Công Nam sử dụng đuổi chém Ngô Thanh S, hiện Phạm Công N bỏ trốn chưa làm việc được nên chưa thể thu giữ; cây gậy bóng chày bằng sắt mà Ngô Thanh S dùng đánh Nguyễn Triều T đã bị rơi xuống taly khu vực sông T nơi xảy ra đánh nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy, không thu giữ được nên không đặt ra giải quyết.

Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: Về đề nghị áp dụng pháp luật, tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị là chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi do bị cáo thực hiện và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn mức hình phạt đề nghị.

Xét ý kiến yêu cầu của bị hại: Yêu cầu của bị hại phù hợp với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Không chấp nhận lời tranh luận của bị cáo cho rằng mức hình phạt như đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn là nặng vì không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở, vì đối trừ tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng thì bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ để được xem xét giảm một phần hình phạt.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Triều T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Triều T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm (ngày 27/11/2019) theo Quyết định bắt, tạm giam của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ngô Thanh S không yêu cầu, chị Phạm Thị S và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy một (01) lưỡi kiếm, có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2019 giữa Công an huyện Bình Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Triều T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng .

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2019). Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết nơi cư trú.

Cỡ chữ