vanban.org

Bản án 55/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 07/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phan Văn T Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HS-PT
Ngày: 07 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Sỹ

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Việt và ông Nguyễn Văn Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà lưu động để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2019/HSPT ngày 09/4/2019 đối với bị cáo Phan Văn T do có kháng cáo của bị cáo Phan Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:16/2019/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Văn T (tên gọi khác: B); sinh ngày 10 tháng 7 năm 1994, tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà Cao Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/4/2017, Phan Văn T bị Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định số: 45/QĐ - XPHC (Hiện tại chưa thi hành). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2018 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án này còn có 03 người bị hại và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo Phan Văn T nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 22/6/2018, Phan Văn T đi đến khu vực công trình xây dựng thuỷ lợi ở Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình, thấy anh Cao Xuân M đang nằm ngủ trên giường xếp, T đi đến vị trí anh M nằm, dùng dao lam mang theo rạch túi bên phải chiếc quần dài anh M đang mặc để lấy trộm ví da nhưng không được, T tiếp tục dùng lưỡi dao lam rạch túi quần dài bên phải phía trước lấy trộm số tiền có ở trong túi quần, lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRO để trên giường xếp bỏ vào túi quần. T đi ra ngoài lán cách khoảng 25- 30m thấy có 01 chiếc xe kéo được phủ bạt màu xanh nên dùng lưỡi lam rạch đứt bạt, kéo bạt phủ ra lấy trộm: 01 máy bơm nước nhãn hiệu DAPHONVINA, 01 máy đầm dùi bê tông loại cầm tay, 01 kìm cộng lực màu đen, 01 cuộn dây điện màu vàng, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm điện. T dùng 01 bao lác có trên xe kéo đựng toàn bộ số tài sản lấy trộm được đem cất giấu ở gốc tre phía bờ hồ sau khán đài thuộc UBND xã H rồi về nhà kiểm tra thì được 1.200.000đồng, còn điện thoại di động T cất giấu sau nhà. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 24/6/2018, T điều khiển xe mô tô BKS 73N6- 2993 mượn của ông bà Phan Thị L, Phan Văn C để chở tài sản trộm cắp được đến bán cho bà Phan Thị X trú tại Thôn 1, xã B lấy 1.500.000đồng tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá số: 46/KL - HĐĐGTS ngày 21/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận số tài sản mà Phan Văn T đã chiếm đoạt của anh Cao Xuân M có trị giá 12.853.000 đồng (01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG j7 PRO giá 6.953.000đồng, 01 máy bơm nước nhãn hiệu DAPHONVINA giá 1.781.000 đồng, 01 máy đầm dùi bê tông cầm tay giá 2.177.000 đồng, 01 kìm cộng lực giá 458.000đồng, 01 cuộn dây điện dài 100m giá 1.484.000đồng).

Tổng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt của anh Cao Xuân M là 14.053.000 đồng (Bao gồm tiền trị giá tài sản 12.853.000 đồng + 1.200.000 đồng tiền mặt).

Quá trình điều tra làm rõ ngoài vụ án trên, Phan Văn T còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ 00 ngày 28/7/2018, Phan Văn T đột nhập vào Trường Tiểu học xã H, nhìn thấy anh Nguyễn Thanh B trú tại Thôn A, xã H đang nằm ngủ trong chiếc màn chụp dưới chân cầu thang, phía trên đỉnh của màn chụp có gắn một máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI MEDIAPAD T3 7.0. Bị cáo T lén lút lấy trộm chiếc máy tính nói trên nhét vào lưng quần rồi đem về nhà cất giấu.

- Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ 00 ngày 27/11/2017, Phan Văn T mang theo 01 chiếc kìm đi đến Trường Tiểu học xã H. T nhảy qua hàng rào đi đến phòng đựng đồ phía ngoài tầng 1, thấy phòng khoá cửa nên T dùng đầu kìm chọc vào khe hở của then cài cửa cạy bung ra rồi đột nhập vào phòng dùng đèn từ điện thoại tìm kiếm tài sản và lấy trộm 01 ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu LG LH 570 T, loại 49 inch đưa về cất giấu ở bụi tre trước sân bóng thuộc UBND xã H. Ngày 29/11/2018, T gọi xe taxi chở chiếc ti vi ra Phường Q, thị xã B bán cho ông Mai V ở tại Tổ dân phố N, phường Q, thị xã B lấy 4.600.000đồng tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá số 01/KL- HĐĐGTS ngày 14/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI MEDIAPAD T3 7.0 có giá trị 1.500.000đồng, 01 ti vi nhãn hiệu LG LH 570T, loại 49 inch có trị giá 10.575.000đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Phan Văn T đã chiếm đoạt của các bị hại trong 03 vụ án trên là 26.128.000đồng.

- Tại bản Cáo trạng số: 14/CT- VKSBT ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2019/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/12/2018). Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/3/2019 bị cáo Phan Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm ăn lương thiện và chăm sóc bà ngoại.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Phan Văn T khai nhận từ ngày 27/11/2017 đến ngày 28/7/2018 đã trực tiếp thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản đúng như nội dung của bản án sơ thẩm đã nhận định. Bị cáo trình bày về hoàn cảnh gia đình, bố mẹ bị cáo đã ly hôn nên bị cáo phải sống với bà ngoại, hiện tại bà ngoại đang bị ốm nặng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn T, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà đã xác định được trong khoảng thời gian từ ngày 27/11/2017 đến ngày 28/7/2018 bị cáo Phan Văn T đã trực tiếp thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: Vụ thứ nhất: vào khoảng 22 giờ ngày 27/11/2017 bị cáo T đã lấy trộm 01 chiếc ti vi trị giá 10.575.000 đồng của Trường Tiểu học xã H, huyện B; Vụ thứ hai: vào khoảng 02 giờ ngày 22/6/2018 bị cáo T đã lấy trộm của anh Cao Xuân M 1.200.000 đồng tiền mặt và tài sản (gồm điện thoại di động, máy bơm nước, máy đầm dùi bê tông, kìm cộng lực, dây điện) trị giá 12.853.000 đồng; Vụ thứ 3: vào khoảng 02 giờ ngày 28/7/2018, bị cáo T lấy trộm của anh Nguyễn Thanh B 01 máy tính bảng trị giá 1.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản do bị cáo T lấy trộm cả ba lần là 26.128.000 đồng. Trong 03 lần trộm cắp tài sản thì có 01 lần (ngày 28/7/2018) trị giá tài sản chưa đủ 2.000.000 đồng, tuy nhiên trước đó bị cáo T đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (chưa thi hành). Do đó, bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173, và áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần (3 lần) theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là có căn cứ.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong khoảng thời gian ngắn bị cáo Phan Văn T đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản do T chiếm đoạt là 26.128.000 đồng. Ngoài ra bị cáo T còn có một tiền sự, bị Công an huyện Bố Trạch xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa thi hành). Với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo T đã gây ra thì mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 tháng tù là không nặng. Trong quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là đúng quy định. Tại giai đoạn phúc thẩm không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Vì vậy, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

. Bị cáo T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/12/2018.

2. Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/6/2019).

Cỡ chữ