vanban.org

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử cho chị Đặng Thị T ly hôn anh Phạm Văn D.

Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Phạm Bảo Ngọc, sinh ngày 23/8/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị T ly hôn anh Phạm Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử cho chị Đặng Thị T ly hôn anh Phạm Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HNGĐ-ST
Ngày 19/12/2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/11/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/11/2019, Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên tòa ngày 02/12/2019 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1982; đăng ký HKTT: Thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; hiện trú tại: Thôn P, xã H, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1984; đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn L, xã D, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

Ngƣời làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; trú tại: Thôn L, xã D, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Đặng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn D kết hôn với nhau vào ngày 11/11/2014 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống cùng gia đình chồng ở thôn L, xã D, huyện T1. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khi chị sinh con (tháng 8/2015) thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh D không tu chí làm ăn, thƣờng xuyên chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ tiền của nhiều ngƣời. Chị đã khuyên nhủ anh D nhiều lần nhƣng anh D không thay đổi, chị có nhờ mẹ chồng khuyên nhủ giúp nhƣng mẹ chồng chị lại bênh anh D. Chị thấy mệt mỏi nên từ giữa năm 2016, chị đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn P, xã H, huyện Gia Lộc sống, mục đích để anh D từ bỏ cờ bạc và vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên từ ngày chị về nhà bố mẹ đẻ sống thì anh D không quan tâm gì đến mẹ con chị, sau đó cũng bỏ đi làm ăn xa (nay tỉnh này, mai tỉnh khác) để tránh việc bị đòi nợ. Chị đã nhiều lần gọi điện bảo anh D về để giải quyết ly hôn nhƣng anh D không về và nói chị muốn làm gì thì làm. Đến nay chị thấy không còn tình cảm với anh D nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh D.

Về quan hệ con chung: Chị và anh D có một con chung là Phạm Bảo Ngọc, sinh ngày 23/8/2015, từ khi anh chị ly thân nhau đến nay, con vẫn ở cùng chị, anh D không có trách nhiệm gì với con. Nguyện vọng của chị muốn đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh D phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Hiện chị làm công nhân may, thu nhập trung bình là 6.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản, tài liệu cho bị đơn là anh Phạm Văn D và nhiều lần triệu tập anh D đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng anh D không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị T.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị T và anh D. Tại biên bản xác minh ngày 07/11/2019, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện Hội phụ nữ, lãnh đạo thôn L, xã D đều xác nhận anh D và chị T có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh D chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều nên phải đi làm ăn ở địa phƣơng khác, không thƣờng xuyên có mặt ở nhà, chị T đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở huyện Gia Lộc sống.

Ông Phạm Đình Úy - Trƣởng Công an xã D cung cấp: Anh D nợ tiền của nhiều ngƣời nên đã bỏ nhà đi để trốn nợ. Khi chị T đến Công an xã xin xác nhận nơi cƣ trú của anh D, ông đã trực tiếp gọi điện yêu cầu anh D cung cấp địa chỉ cụ thể nhƣng anh D không cung cấp, chỉ nói đang làm thợ xây ở Hà Nội, thỉnh thoảng mới tranh thủ về nhà và sẽ không về để giải quyết việc ly hôn với chị T.

Ngƣời làm chứng là bà Nguyễn Thị L (là mẹ anh D) trình bày: Anh D và chị T chung sống với nhau đến giữa năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, anh D còn nợ tiền của nhiều ngƣời nhƣng không biết lý do vì sao. Do chán nản nên chị T đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ sống. Sau đó anh D cũng đi làm ăn xa nhƣng không nói rõ địa chỉ ở đâu, lúc thì nói làm ở Hà Nội, lúc lại nói làm ở Quảng Ninh. Bà cũng xác định đã liên lạc đƣợc với anh D và thông báo về việc Tòa án huyện Tứ Kỳ đang giải quyết việc ly hôn của anh với chị T, đồng thời yêu cầu anh D về giải quyết ly hôn nhƣng anh D không về và bày tỏ quan điểm đồng ý ly hôn với chị T.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở xã D đề nghị Tòa án giao con cho chị T trực tiếp nuôi dƣỡng vì anh D là ngƣời chơi bời, nợ nần nhiều và thƣờng xuyên vắng mặt tại địa phƣơng.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh D không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 29/11/2019, bị đơn là anh Phạm Văn D đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà lần thứ hai, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh D và đề nghị đƣợc nuôi con, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác. Anh D đã đƣợc triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T là đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị T có mặt, anh D vắng mặt lần hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, xử cho chị T ly hôn anh D; giao cho chị T nuôi con, anh D không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị T; về án phí: chị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Phạm Văn D đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Phạm Văn D tự nguyện kết hôn và đã đƣợc UBND xã D đăng ký, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11/11/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị T, biên bản xác minh tại địa phƣơng, lời khai của ngƣời làm chứng (bà L) có căn cứ xác định trong cuộc sống chị T và anh D có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, anh D nợ tiền của nhiều ngƣời nhƣng không có kế hoạch trả, lại thƣờng vắng mặt ở nhà, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng không có hạnh phúc. Chị T và anh D đã sống ly thân nhau từ giữa năm 2016 đến nay. Anh D cũng không có thiện chí đoàn tụ cùng chị T, điều này thể hiện ở việc trong quá trình vợ chồng ly thân, anh D không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ hôn nhân. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh D đã nhiều lần đƣợc Tòa án triệu tập để lấy lời khai, đồng thời hòa giải việc ly hôn với chị T nhƣng không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ cũng đề nghị HĐXX xử cho chị T đƣợc ly hôn anh D. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T đƣợc ly hôn với anh D.

Về con chung: Con chung của chị T và anh D là cháu Phạm Bảo Ngọc, sinh ngày 23/8/2015 hiện đang sống cùng chị T và chị T có nguyện vọng đƣợc nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dƣỡng. HĐXX thấy mặc dù cháu Phạm Bảo Ngọc đã trên 36 tháng tuổi nhƣng vẫn còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của mẹ, hơn nữa, từ khi chị T và anh D ly thân nhau tới nay, con vẫn sinh sống cùng chị T tại xã H, huyện Gia Lộc; chị T làm công nhân may, có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, anh D thƣờng xuyên vắng mặt tại địa phƣơng, sinh sống và làm việc không ổn định nên cần giao con cho chị T trực tiếp nuôi dƣỡng để đảm bảo cuộc sống của con là phù hợp với quan điểm của cơ quan quản lý gia đình và trẻ em ở địa phƣơng, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử cho chị Đặng Thị T ly hôn anh Phạm Văn D.

2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Phạm Bảo Ngọc, sinh ngày 23/8/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0005219 ngày 03/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ