vanban.org

Bản án 55/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thanh Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục nuôi người con tên Nguyễn Minh L - sinh ngày 28/10/2011. Chị Huỳnh Thanh Đ không cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Huỳnh Thanh Đ tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thanh Đ - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thanh Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 55/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12/8/2019
Về việc“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng

2. Bà Nguyễn Thị Việt Tím

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Luyến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2019/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thanh Đ- sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 11, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T- sinh năm 1985 (vắng mặt lần 2 không lý do).

Địa chỉ: tổ 11, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Huỳnh Thanh Đ trình bày:

Chị Huỳnh Thanh Đ và anh Nguyễn Văn T tự quen nhau khoảng 3 tháng đi đến tổ chức đám cưới vào ngày 19/5/2009, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 26/12/2011.

Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T thường xuyên đi chơi không lo cho vợ con, dẫn đến vợ chồng hay cãi vã làm cho mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Thấy tiếp tục chung sống với nhau không hạnh phúc nên vợ chồng ly thân từ tháng 8/2017 cho đến nay, đến ngày 04/5/2019 chị Đ làm đơn xin ly hôn.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Minh L - sinh ngày 28/10/2011. Hiện đang sống chung với anh T.

Nay tại Tòa án chị Đ yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị Đ đồng ý giao con cho anh T nuôi dưỡng, chị Đ không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án có triệu tập anh Nguyễn Văn T để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng anh Nguyễn Văn T vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thanh Đ.

- Về quan hệ con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Minh L - sinh ngày 28/10/2011 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, theo nguyện vọng của cháu L, là phù hợp với quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa hợp lệ nhưng anh Nguyễn Văn T vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T.

Xét thấy anh T chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đ tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh T vẫn không đến Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh T chung sống với nhau được UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/12/2011, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Đ là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì vợ chồng anh chị chung sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc, đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị Đ cho rằng do anh T thường xuyên đi nhậu không lo cho vợ con, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Tại phiên tòa, chị Đ thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị Đ và anh T hai bên đã ly thân từ tháng 8/2017 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ được ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: Chị Đ và anh T chung sống có 01 người con tên Nguyễn Minh L - sinh ngày 28/10/2011, hiện đang sống với anh T. Chị Đ thống nhất giao cháu L cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu L hiện đang sống với anh T và nguyện vọng của cháu là muốn ở với anh T. Hội đồng xét xử thống nhất giao cho anh T tiếp tục nuôi con là phù hợp. Trường hợp anh T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, có thể kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị Đ và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về nợ chung: Chị Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Đ phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thanh Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục nuôi người con tên Nguyễn Minh L - sinh ngày 28/10/2011. Chị Huỳnh Thanh Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Huỳnh Thanh Đ tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Đ, anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thanh Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003348 ngày 13/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ