- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? * - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, khoản 4 điều 147, điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h…
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---***--- Bản án số: 55/2019/HNGĐ-ST Ngày 30/09/2019 “ V/v: Ly hôn giữa chị G và anh L” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-------------------------------------
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ - Ông Trần Xuân Hòa.
2/ - Ông Nguyễn Đức Tuân.
Thư ký phiên tòa: - Bà Nguyễn Thị Loan - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa: - Ông Nguyễn Hữu Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30/09/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 213/2019/HNGĐ-ST Ngày 03/08/2019 về việc "Xin ly hôn" giữa:
*- Nguyên đơn: Chị Lê Thị G - Sinh năm 1974.
+ Sinh quán tại: Xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
+ Trú quán và HKTT tại: Thôn 4, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt tại phiên tòa).
*- Bị đơn: Anh Vương Hồng L - Sinh năm 1974.
+ Sinh, trú quán và HKTT tại: Thôn 4, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
+ Hiện đang chấp hành án phạt tù tại: Trại giam A, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
*- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/- Cháu Vương Hồng M - Sinh ngày 14/05/1996.
2/- Cháu Vương Thị Yến N – Sinh ngày 24/3/2008
+ Đều sinh, trú quán và HKTT tại: Thôn 4, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Đều vắng mặt tại phiên tòa).
+ Người giám hộ cho cháu N là chị Lê Thị G.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết xét xử vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Vương Hồng L có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 1995, trên cơ sở hai bên tự nguyện. Hai anh chị chung sống với nhau hạnh phúc bình thường được một thời gian. Đến năm 2001 thì vợ chồng nẩy sinh mâu thuẫn do anh L nghiện chất ma túy. Nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù. Nay đang phải đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam A. Nay chị xin được ly hôn với anh L vì không có hạnh phúc, tình cảm.
Về con chung: Chị và anh L có hai con chung là cháu Vương Hồng M (Sinh ngày 14/5/1996) và cháu Vương Thị Yến N ( Sinh ngày 24/3/2008), hiện nay đang ở với chị. Nếu vợ chồng ly hôn thì chị xin được tiếp tục nuôi cháu N mà không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con chung. Còn đối với cháu M đã lớn trưởng thành nên việc nuôi dưỡng không đặt ra.
Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết phân chia.
Tại biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vương Hồng L trình bày:
Về hôn nhân: Anh cũng khai nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Lê Thị G trình bày trên đây. Anh xin đoàn tụ vợ chồng, trong trường hợp chị G kiên quyết thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc chờ anh ra trại thì mới giải quyết ly hôn tiếp.
Về con chung: Anh và chị G có hai con chung là cháu Vương Hồng M và cháu Vương Thị Yến N hiện đang ở với chị G. Cháu M đã lớn trên 18 tuổi nên không đặt vấn đề nuôi dưỡng, còn cháu N thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về chia tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết phân chia.
Cháu Vương Thị Yến N có quan điểm nguyện vọng là xin được ở với chị Lê Thị G trong trường hợp bố mẹ ly hôn nhau.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị Lê Thị G vẫn giữ nguyên ý kiến và quan điểm trên đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong qúa trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng trong vụ án. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án lệ phí Tòa án. Đề nghị xử: Cho chị Lê Thị G được ly hôn với anh Vương Hồng L; Con chung: Giao cháu Vương Thị Yến N cho chị G tiếp tục nuôi, còn cháu Vương Hồng M đã lớn trưởng thành nên vấn đề nuôi dưỡng không đặt ra. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh Vương Hồng L được quyền thăm nom con chung; Tài sản chung, công nợ chung và công sức chung của anh Vương Hồng L và chị Lê Thị G thì không đặt ra giải quyết trong vụ án ly hôn này; Nguyên đơn chị Lê Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Việc anh Vương Hồng L và chị Lê Thị G kết hôn có đăng ký là hợp pháp, đã xác lập quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh chị đã nẩy sinh mâu thuẫn, sống ly thân nhau, không quan tâm chăm sóc nhau. Cuộc sống gia đình đang ở tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần xử cho chị Lê Thị G được ly hôn với anh Vương Hồng L để hai anh chị sớm ổn định, tạo lập hạnh phúc gia đình mới.
Về con chung: Mặc dù nguyện vọng xin được nuôi con chung của cả hai anh chị đều là chính đáng, nhưng con chung là cháu Vương Thị Yến N đã và vẫn đang ở với chị G. Anh L thì vẫn đang phải chấp hành án phạt tù ở tỉnh Thanh Hóa. Mặt khác nguyện vọng của cháu N là xin được ở với chị G, nên cần giao cháu N cho chị G tiếp tục nuôi. Do chị G không yêu cầu nên việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh Vương Hồng L được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Riêng về cháu Vương Thị M đã lớn trưởng thành, trên 18 tuổi nên việc nuôi dưỡng không đặt ra.
Về chia tài sản: Do cả anh Vương Hồng L và chị Lê Thị G đều không yêu cầu phân chia, nên Tòa án không đặt ra xem xét trong vụ án ly hôn này. Khi nào anh, chị có yêu cầu phân chia tài sản thì làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Cần đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị G đã nộp tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, khoản 4 điều 147, điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí tòa án.
*- Xử :
1. – Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị G được ly hôn với anh Vương Hồng L.
2. – Về con chung: Giao cháu Vương Thị Yến N (Sinh ngày 24/3/2008) cho chị Lê Thị G tiếp tục nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh Vương Hồng L được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Còn đối với cháu Vương Hồng M ( Sinh ngày 14/05/1996) đã lớn trưởng thành, nên vấn đề nuôi dưỡng không đặt ra.
3. – Về chia tài sản: Không đặt ra xem xét. Khi nào anh Vương Hồng L, chị Lê Thị G có yêu cầu phân chia thì làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
4. – Về án phí: Chị Lê Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. (Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng dự phí chị G đã nộp theo biên lai thu số 0001361 ngày 03/08/2019 tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khoái Châu nên việc nộp án phí đã xong).
5.- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị G (Có mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/09/2019. Các cháu Vương Hồng M và Vương Thị Yến N (Vắng mặt tại phiên tòa) đều được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại địa phương nơi cư trú. Anh Vương Hồng L (Vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại trại giam nơi chấp hành án./
| - Nơi nhận: + TAND& VKSND tỉnh Hưng Yên + VKSND huyện Khoái Châu. + THADS huyện Khoái Châu. + UBND xã H. + Các đương sự. + Lưu Hồ sơ, VP. | T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Chủ tọa phiên tòa PHẠM THẾ PHƯƠNG |