vanban.org

Bản án 55/2019/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Đinh Thị Thoại, Võ Thị Kiều Trang"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!CHÂU!THÀNH!
TỈNH!LONG!AN!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 55/2019/DS-ST
Ngày : 17 -10-2019
V/V “tranh chấp hụi”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CHÂU!THÀNH!TỈNH!LONG!AN!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí!

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quang Vinh

Bà Trương Thị Hải

"Thư" ký" phiên" tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại" diện" Viện" Kiểm" sát" nhân" dân" huyện" Châu" Thành" tỉnh" Long" An" tham"gia"phiên"tòa: Ông Nguyễn Tấn Vũ- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý 83/2019/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2019 về “tranh chấp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐXX-ST ngày 24 tháng 09 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị T. Địa chỉ: ấp 1, xã C, huyện T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Bà Nguyễn Thị Kim T. Địa chỉ: đường Nguyễn Công T, phường 3, Thành phố A, tỉnh Long An.

- Bị đơn:

Bà Võ Thị Kiều T. Địa chỉ: ấp D, xã M, huyện H, tỉnh Long An.

Ông Nguyễn Kim H. Địa chỉ: , Ấp 1, xã C, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02-5-2019 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Kim T!là người đại diện theo ủy quyền của bà T trình bày: Vào năm 2017 bà T là hụi viên, tham gia chơi hụi do bà T là chủ các dây hụi cụ thể như sau:

Dây hụi 1: Ngày 30/01/2017 (AL) hụi một tháng khui một lần, hụi 1.000.000 đồng, gồm có 25 hụi viên, hụi hoa hồng là 500.000 đồng, bà T tham gia một phần, hụi bắt đầu khui vào ngày 30/01/2017, bà T đã đóng được 20 kỳ hụi sống là 13.890.000 đồng, bà T tuyên bố vỡ hụi vào tháng 8 năm 2018 AL và không giao hụi lại cho bà T là 13.890.000 đồng.

Dây hụi 2: Ngày 25/02/2017 (AL) hụi một tháng khui một lần, hụi 1.000.000 đồng, gồm có 25 hụi viên, hụi hoa hồng là 500.000 đồng, bà T tham gia một phần, hụi bắt đầu khui vào ngày 25/02/2017, bà T đã đóng được 19 kỳ hụi sống là 12.910.000 đồng, bà T tuyên bố vỡ hụi vào tháng 8 năm 2018 AL (ngày bà N hốt hụi) và không giao hụi lại cho bà T là 12.910.000 đồng.

Tổng cộng hai dây hụi là: 26.800.000 đồng, con gái bà T có trả cho bà T 1.000.000 đồng vào tháng 9 năm 2018, còn lại bà T 25.800.000 đồng.

Việc khui hụi, đóng hụi giữa bà T và bà T thì thỉnh thoảng ông H có mặt trong nhà, có lúc con bà T khui hụi và có nhận tiền hụi. Hai danh sách hụi do bà T ký tên và nộp cho Tòa án. Việc chơi hụi và giao tiền hụi giữa hai bên có sổ sách theo dõi.

Nay bà T yêu cầu bà T và ông H liên đới trả cho bà T 25.800.000 đồng vốn hụi, trong thời gian một tháng kể từ ngày 26/7/2019.

Bà Võ Thị Kiều T là bị đơn trình bày: Qua lời trình bày của bà T về hai dây hụi trên là đúng.

Đối với dây hụi thứ 1: Bà T chỉ đóng hụi sống cho bà từ tháng 01đến 06/2017, tổng cộng là 4.195.000 đồng.

Đối với dây hụi thứ 2: Bà T chỉ đóng hụi sống cho bà từ tháng 02 đến 06/2017, tổng cộng là 3.580.000 đồng. Tổng cộng hai dây hụi bà nợ bà T chỉ có 7.775.000 đồng. Việc chơi hụi và giao tiền hụi giữa hai bên không có sổ sách theo dõi.

Từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018 thì bà T không đóng hụi cho bà nữa. Đến tháng 7 năm 2018 bà chấm dứt việc chơi hụi (tuyên bố vỡ hụi). Nay bà và ông H xin hẹn đến ngày 30 tháng 3 năm 2020, bà và ông H trả hết số tiền hụi cho bà T là 7.775.000 đồng.

Ông Nguyễn Kim H là bị đơn trình bày tại biên bản hòa giải ngày 12/7/2019: Khi bà T tham gia chơi hụi thì ông không biết, nên ông không đồng ý trả cho bà T và ông xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Người tiến hành tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án dân sự Thẩm phán tuân thủ các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Những người tham gia phiên tòa: Các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Bà T yêu cầu bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H liên đới trả 25.800.000 đồng tiền vốn hụi. Bà T cho rằng chỉ nhận tiền đóng hụi từ bà T của hai dây hụi là 7.775.000 đồng. Qua lời trình bày của bà T và những người làm chứng thì không có cơ sở xác định bà T đóng tiền hụi cho bà T cụ thể là bao nhiêu tiền. Bà T chỉ đồng ý trả là 7.775.000 đồng, bà T không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh việc bà T nợ bà T là 25.800.000 đồng nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bà T, chấp nhận lời trình bày của bà T.

Tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ vào các chứng cứ của vụ án và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Bà Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H phải liên đới trả 25.800.000 đồng tiền vốn hụi về việc “tranh chấp hụi” được quy định tại các điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông H có đơn xin vắng mặt, Tòa án căn cứ vào điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.

[2]. Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy bà T yêu cầu bà T và ông H phải liên đới trả vốn hụi của 2 dây hụi tổng cộng là 25.800.000 đồng, không tính lãi, bà T thừa nhận bà T đóng hụi sống của hai dây hụi cho bà là 7.775.000 đồng. Theo các giấy hụi do bà T giao nộp cho Tòa án, việc ghi số tiền của từng kỳ đóng hụi là do bà T tự ghi chép, không phải do bà T ghi chép, không được bà T thừa nhận, những người làm chứng khai trình thể hiện hai dây hụi có diễn ra, có khui hụi nhưng không xác định được số tiền bà T đóng hụi cho bà T là bao nhiêu, từng kỳ ra sau, bà T không có tài liệu gì để chứng minh việc bà T, ông H có nợ bà T 25.800.000 đồng. Do đó, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bà T nên cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ti buộc bà T, ông H phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền vốn hụi là 7.775.000 đồng, theo quy định tại các điều 288, 471 Bộ luật dân sự năm 2015, khi án có hiệu lực pháp luật và các điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 hướng dẫn về hụi, họ, biêu, phường. Bà T xin trả dần, bà T không đồng ý và không phù hợp với quy định của pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận.

Bà T và ông H là vợ chồng, việc các bên tham gia chơi hụi trong thời kỳ hôn nhân, diễn ra tại nhà ông H và bà T trong thời gian dài, bà T tổ chức việc chơi hụi ông H cho rằng không biết, là không có cơ sở. Ngoài ra, bà T tổ chức chơi hụi là phục vụ cho cuộc sống gia đình. Nên cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T buộc ông H, bà T liên đới trả cho bà T là 7.775.000 đồng.

[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4]. Về án phí:

Bà T phải chịu án phí phần không chấp nhận là 18.025.000 đồng x 5%.

Bà T, ông H phải liên đới chịu án phí của số tiền là 7.775.000 đồng x 5%.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

- Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điều 288, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Áp dụng Điều 37 Luật hôn nhân gia gia đình;

- Áp dụng các điều 18, 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 hướng dẫn về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên"xử:!

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Định Thị T về việc “tranh chấp hụi” với bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H.

Buộc bà T, ông H phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà T 7.775.000 đồng (bảy triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền vốn hụi.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T về việc “tranh chấp hụi” với bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H, là 18.025.000 đồng vốn hụi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

3. Về án phí:

Bà T phải chịu 901.250 đồng (chín trăm lẽ một nghìn hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002051 ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An. Bà T được nhận lại 48.750 đồng tạm ứng án phí.

Bà T, ông H phải liên đới nộp 388.750 đồng (ba trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ