- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 55/2018/HSST Ngày: 14-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Chi.
2. Ông Phan Kim Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2018/HSST ngày 22/8/2018 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 75/2018/QĐXXST-HS ngày 29/8/2018 đối với bị cáo:
Đoàn Văn L, giới tính: Nam; sinh năm: 1974 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp NL, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Không có nơi ở nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Không; con ông Đoàn Hồng C, sinh năm 1932 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1942 (chết); có vợ là Trương Thị Thúy L, sinh năm 1978, có 01 con sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/5/2018 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Cà M, sinh năm 1994.
Địa chỉ: 11/3 đường A, khu phố B, phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Đoàn Kim M1 mở tiệm game bắn cá KS số 11/3, đường A, khu phố B, phường C, Quận D. Chị M1 thuê chị Nguyễn Thị Cà M làm Quản lý quán. Ngày 02/5/2018, chị M1 đi lấy tiền hụi số tiền 160.000.000 đồng (gồm các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng) chị M1 gói thành một cọc tiền rồi giao cho chị M cất giữ, quản lý. Khoảng 09 giờ ngày 03/5/2018, do thiếu tiền tiêu xài nên Đoàn Văn L nảy sinh ý định trộm tiền của chị M. L chuẩn bị 01 búa cán bằng gỗ, đầu bằng kim loại, dấu trong người đi đến tiệm game bắn cá KS để chơi. Tại đây, L quan sát thấy chị M không để ý nên L đi lên gác của tiệm, dùng búa mang theo đập ổ khóa tủ gỗ, lấy trộm cọc tiền mà chị M1 gửi cho M để trên ngăn kéo trên cùng, lúc này chị M đi lên gác phát hiện, la lên thì L nhìn chị M, chị M thấy L cầm búa trên tay nên sợ bỏ chạy xuống dưới tiệm. L đi xuống 1 tay cầm búa, 1 tay cầm cọc tiền vừa lấy được đi ra ngoài. Lúc này anh Nguyễn Văn T là nhân viên của quán đuổi theo nhưng không kịp, trên đường tẩu thoát L vứt búa và làm rơi cọc tiền khoảng 90.000.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra chị M báo cho chị M1 biết và đến Công an phường Bình An, Quận 2 trình báo sự việc.
Qua làm việc với chị Đoàn Kim M1 xác định được: Chị M1 thuê chị Nguyễn Thị Cà M làm quản lý, chịu trách nhiệm toàn bộ về việc trông coi và quản lý tài sản tại tiệm game bắn cá KS.
Ngày 07/5/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 2 phát hiện L, mời L về điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 2 Đoàn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu ở trên. Sau khi lấy trộm tiền, trên đường bỏ chạy, L làm rơi 01 cọc tiền 90.000.000 đồng, số tiền còn lại L dùng để chơi game bắn cá tại tiệm số 288/18 đường NTL, Phường X, quận Y do Nguyễn Văn M làm chủ và số 358 đường CVA, Phường X, quận Y do Ngô Thị Hồng L làm chủ, hết số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó L đến khu vực Chợ Thủ Đức mua 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng hết khoảng 24.000.000 đồng. L cho bạn gái Võ Hoàng Trúc H số tiền khoảng 40.000.000 đồng, H dùng số tiền này mua nữ trang và điện thoại để sử dụng.
Vật chứng vụ án: 01 tủ gỗ kích thước 50 x50 x 80cm bị bể ở ngăn tủ trên; 01 ổ khóa bằng kim loại đã bị hư; 01 nhẫn nam kim loại màu vàng, trọng lượng khoảng 03 chỉ; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trọng lượng khoảng 05 chỉ.
Đây là các tài sản của chị Nguyễn Thị Cà M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đã trả cho chị M.
- 01 thẻ nhớ hiệu Samsung EVO plus (lưu giữ video cảnh L đi lên gác lấy tiền đi xuống, chuyển kèm hồ sơ làm căn cứ cho Tòa xét xử).
Theo Kết luận định giá tài sản số 158 ngày 04/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 2 kết luận: 01 tủ gỗ kích thước 50 x50 x 80cm bị bể ở ngăn tủ trên có giá trị 200.000 đồng; 01 ổ khóa bằng kim loại đã bị hư có giá trị 50.000 đồng; 01 nhẫn nam kim loại màu vàng, trọng lượng khoảng 03 chỉ vàng 24K có giá trị 10.683.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trọng lượng khoảng 05 chỉ vàng 18K có giá trị 12.992.500 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 160.250.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Cà M nhận lại tài sản gồm: 01 tủ gỗ, 01 ổ khóa, 01 nhẫn kim loại màu vàng, 01 dây chuyền kim loại màu vàng và không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.
Bản Cáo trạng số 52/CTr-VKS ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Đoàn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Đây là vụ án do Đoàn Văn L đã có hành vi lén lút phá tủ lấy trộm số tiền 160.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Cà M tại số 11/3, đường A, Khu phố B, phường C, Quận D vào ngày 03/5/2018. Hành vi của Đoàn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Đối với hành vi hủy hoại tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị 250.000 đồng, chưa đủ định lượng làm căn cứ để xử lý hình sự đối với Đoàn Văn L.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị hại đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn L từ 03 đến 04 năm tù.
Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đoàn Văn L thừa nhận đã chuẩn bị 01 búa cán bằng gỗ, đầu bằng kim loại, dấu trong người đi đến tiệm game bắn cá KS để chơi. Tại đây, L quan sát thấy chị M không để ý nên L đi lên gác của tiệm, dùng búa mang theo đập ổ khóa tủ gỗ, lấy trộm cọc tiền mà chị M1 gửi cho M để trên ngăn kéo trên cùng. Sau khi lấy trộm tiền, trên đường bỏ chạy, L làm rơi 01 cọc tiền 90.000.000 đồng, số tiền còn lại L dùng để chơi game bắn cá tại tiệm số 288/18 đường NTL, Phường X, quận Y do Nguyễn Văn M làm chủ và số 358 đường CVA, Phường X, quận Y do Ngô Thị Hồng L làm chủ, hết số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó L đến khu vực Chợ Thủ Đức mua 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng hết khoảng 24.000.000 đồng. L cho bạn gái Võ Hoàng Trúc H số tiền khoảng 40.000.000 đồng, H dùng số tiền này mua nữ trang và điện thoại để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng ... và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đoàn Văn L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân và tổ chức được pháp luật bảo vệ. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo là đã chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nên đã vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nên cần phải áp dụng đối với bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Xét sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Bi ̣ hại đa nhâ ̣̃
n la ̣i tài sản, không yêu cầu gi thêm,
̀ đối với số tiền bị cáo làm mất chưa bồi thường được do có quan hệ ruột thịt nên bị hại đã cho bị cáo không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Đối với hành vi làm hư hỏng 01 tủ gỗ và 01 ổ khóa có giá trị 250.000 đồng, do chưa đủ định lượng để xử lý hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự, do đó Công an Quận 2 chuyển xử phạt hành chính là đúng quy định.
Đối với Võ Hoàng Trúc H, khi L cho H tiền, H không biết đó là tiền do L trộm cắp mà có, hiện nay H đi đâu không rõ, chưa làm việc được với H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn M và Ngô Thị Hồng L, không có hành vi đánh bạc hay tổ chức đánh bạc, do đó chưa đủ cơ sở xử lý.
Đối với cửa hàng bán trang sức cho L ở khu vực Chợ Thủ Đức, L không nhớ rõ địa điểm nên không có cơ sở xử lý.
Đối với: 01 thẻ nhớ hiệu Samsung EVO plus (lưu giữ video cảnh Lợi đi lên gác lấy tiền đi xuống) tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2018.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đoàn Văn L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - PC53-Công an TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 2; - Thi hành án Dân sự Quận 2; - Công an Quận 2; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đoàn Nam Hà |