vanban.org

Bản án 55/2018/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 12/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội Giết người.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 585 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận người bị hại Hoàng Văn D không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn Th phải bồi thường thiệt hại. Chấp nhận chị Quàng Thị Ng không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn Th phải hoàn trả số tiền 20.000.000đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Th - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội Giết người.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2018/HSST
Ngày 12 - 3 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Ngọc Chung

Ông Nguyễn Văn Khiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2018/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo sau đây:

Hoàng Văn Th; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Bản Đ, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn Vvà bà: Lò Thị D; có vợ: Quàng Thị Ng và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2017 đến nay, có mặt.

* Ngƣời bị hại: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1984, nơi cư trú: Bản Đ 2, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mặt.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lò Văn H, sinh năm: 1972, nơi cư trú: Bản Đ 2, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mặt.

2. Anh Hoàng Văn T, sinh năm: 1980, nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mặt.

3. Chị Quàng Thị Ng, sinh năm: 1991, nơi cư trú: Bản Đ, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn Th và Quàng Thị Ng kết hôn với nhau từ năm 2009, đã có với nhau 02 con trai. Tháng 9/2016, chị Hoàng Thị T (chị gái của Th) phát hiện tin nhắn trong điện thoại của Hoàng Văn D (chồng của Tâm) có nhiều nội dung yêu đương, tình cảm nam nữ giữa D và Ng. Kể từ đó, Th phát hiện Ng có quan hệ bất chính với anh rể là Hoàng Văn D; sinh năm 1984 ở cùng bản. Th đã họp hai gia đình giải quyết và yêu cầu Ng chấm dứt mối quan hệ đó với D. Đến khoảng giữa tháng 9/2017, chị Tâm phát hiện trước đó Hoàng Văn D (chồng của Tâm) có cho Quàng Thị Ng mượn 01 chiếc máy tính (laptop) nên đến hỏi nhưng Ng không thừa nhận và cho rằng chiếc máy tính đó là của em gái Ng mua cho. Vì chị Tâm cho rằng giữa Ng và chồng mình vẫn còn qua lại với nhau nên đã xảy ra xô xát, to tiếng giữa chị Tâm và Ng. Sau đó, chị Tâm đã nói lại sự việc cho Th biết, do nghi ngờ vợ mình (Ng) vẫn còn qua lại và có quan hệ tình cảm trai gái với D nên tối ngày 20/9/2017, sau khi ăn cơm, uống rượu tại nhà Lường Văn Hồng tại bản Đ 2 - xã S - Y xong, trên đường về nhà Th phát hiện Hoàng Văn D đang ngồi uống bia cùng với Hoàng Văn T; sinh năm 1980 và Lò Văn H; sinh năm 1972 (ở cùng bản) tại quán của anh H ở bản Đ 2 - S - Y. Do vẫn còn ghen tức về việc làm của anh rể nên Th nảy sinh ý định dùng dao chém D để cảnh cáo. Khi đi qua bàn bán thịt lợn của anh Phan Thanh Bình tại bản Đ 2 - S, Th lén lấy con dao nhọn (loại dao bầu) dắt vào thắt lưng rồi đi xe mô tô BKS 26B1 - 788.47 của mình đến chỗ D đang ngồi uống bia, khi đến nơi Th dừng xe ngoài cửa quán, cầm dao đi vào quán đến phía sau lưng của D. Khi D vừa quay lại phía Th, thì bị Th vung dao chém 03 nhát vào vùng mặt, D ôm mặt gục xuống bàn, Th chém tiếp 04 nhát nữa vào chân, tay của D, thấy D bị chém, anh T ở bên cạnh đứng ra căn ngăn, thì bị Th vung dao chém 03 nhát vào tay trái của anh T, lúc đó Hoàng Văn D đứng dậy bỏ chạy, Th cầm dao đuổi theo, thì bị anh H ngăn lại liền bị Th chém trúng 02 nhát vào ngực và 01 nhát vào tay anh H. Mọi người xung quanh thấy Hoàng Văn Th cầm dao chém nhiều người nên đã đứng ra ngăn cản đẩy Th ra khỏi quán, Th ra lấy xe mô tô nổ máy, điều khiển đi đến nhà Hoàng Văn Tuyên; sinh năm 1974 (anh trai của Th) nói với anh Tuyên về việc vừa dùng dao chém D, sau đó bỏ con dao gây án tại bàn bán thịt lợn của nhà anh Tuyên rồi đi về nhà. Hoàng Văn D, Lò Văn H, Hoàng Văn T sau khi bị thực chém đã được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Y chữa trị.

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kiểm tra dấu vết thương tích trên thân thể của nạn nhân và tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Hoàng Văn D; Hoàng Văn T và Lò Văn H (người bị hại); trưng cầu giám định mẫu máu dính trên con dao gây án và mẫu máu thu giữ tại hiện trường vụ án thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

- Xác định hiện trường vụ án là quán tạp hoá trước cửa nhà của anh Lò Văn H; bản Đ 2 - xã S - huyện Y, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 con dao do Hoàng Văn Tuyên (anh trai của Th) giao nộp và xác định là hung khí Th sử dụng để gây án.

- Kết luận giám định về tỷ lệ thương tích số 128, 129,130 ngày 01/10/2017, của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn la xác định: Tại thời điểm giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể Hoàng Văn D là 8%; Hoàng Văn T là 3% và Lò Văn H là 3% .

+ Kết luận giám định số 112 ngày 06/11/2017, của Viện pháp y Quốc gia xác định “Mẫu máu thu giữ tại hiện trường trùng khớp với ADN của Hoàng Văn D. Trên con dao nhọn, dạng dao bầu có máu người nhưng không đủ dữ liệu để so sánh nên không xác định được ADN là của Hoàng Văn D, Hoàng Văn T hay Lò Văn T”

Đối với Hoàng Văn T, Lò Văn H mặc dù bị Hoàng Văn Th sử dụng dao chém gây thương tích với tỷ lệ thương tích, theo kết quả giám định tỷ lệ thương tật của mỗi người xếp tỷ lệ lần lượt là 3% nhưng ngoài yêu cầu bồi thường dân sự và đã nhận mỗi người 10.000.000đ (mười triệu) theo biên bản thoả thuận, thì anh T và anh H không yêu cầu xử lý hình sự đối với Hoàng Văn Th.

Đối với người bị hại Hoàng Văn D là người cũng có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo Th, về trách nhiệm bồi thường dân sự, người bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với cho Hoàng Văn Th.

Tại cáo trạng số 15/VKS-P2 ngày 05/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Th về tội Giết người, theo qu định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.

* Tại phiên tòa sơ thẩm

- Bị cáo Hoàng Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tuy nhiên đề nghị xem xét bị cáo chỉ Cố ý gây thương tích chứ không phải cố ý giết người.

- Bị hại Hoàng Văn D có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

- Người liên quan Lò Văn H, Hoàng Văn T có ý kiến: không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về việc bị cáo gây thương tích và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi hoàn nên tại phiên tòa không có đề nghị khác.

- Người liên quan Quàng Thị Ng có ý kiến: đối với số tiền 20.000.000đ mà gia đình đã bồi thường tiền chữa trị vết thương cho anh Lò Văn H và Hoàng Văn T là tự nguyện và không yêu cầu bị cáo hoàn trả; còn đối với chiếc xe máy hiệu YAMAHA Sirius có BKS 26B1-788.47 kèm đăng ký xe mà cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trả lại cho gia đình nên tại phiên tòa, chị Ng không có yêu cầu gì khác.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày lời luận tội: Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th từ 05 đến 06 năm tù về tội Giết người.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và người liên quan đã thỏa thuận nên không xem xét.

Về vật chứng vụ án xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi vào ngày 20/9/2017 tại bản Đ 2 - xã S - huyện Y - tỉnh Sơn La, do ghen tức việc Hoàng Văn D là anh rể của bị cáo Hoàng Văn Th có quan hệ bất chính với Quàng Thị Ng (vợ của Th) nên bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là 01 con dao sắc, nhọn loại dao bầu dài 35cm chém nhiều nhát vào phần mặt, đầu, chân và tay là những vị trí nguy hiểm của Hoàng Văn D gây thương tích với tỷ lệ thương tật 8%.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết thân thể, kết luận giám định tỷ lệ thương tật; kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Văn Th đã phạm tội Giết người, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Ngoài hành vi nêu trên, bị cáo còn gây thương tích cho anh Hoàng Văn T và Lò Văn H khi anh T, H vào can ngăn bị cáo dùng dao nhọn chém Hoàng Văn D nhưng việc bị cáo gây thương tích cho anh T và H là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi trên của bị cáo có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, đây là tội phạm thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng anh Hoàng Văn T và Lò Văn H không yêu cầu khởi tố Hoàng Văn Th theo quy định của pháp luật mà chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần. Do đó, Cơ quan điều tra không khởi tố bổ sung vụ án, khởi tố bổ sung bị can đối với Hoàng Văn Th về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào nhiều bộ phận trọng yếu trên cơ thể anh Hoàng Văn D có khả năng dẫn đến chết người nhưng do quá bức xúc về việc anh D lén lút nhắn tin yêu đương, có quan hệ tình cảm với vợ mình là Quàng Thị Ng nên đã dùng dao chém anh D mục đích là để cảnh cáo và bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Hoàng Văn Th về tội Giết người, theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Về tính chất của vụ án: hành vi bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo, răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, bị cáo tuổi đời còn trẻ, bồng bột, thanh niên tính, không tự kiềm chế được bản thân và hành vi phạm tội của bị cáo do một phần lỗi của người bị hại; có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và bị cáo phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, người bị hại Hoàng Văn D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và tại phiên tòa người bị hại vẫn giữ nguyên quan điểm. Xét thấy, yêu cầu của người bị hại là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Đối với số tiền 20.000.000đ mà chị Quàng Thị Ng đã bồi hoàn cho người liên quan Lò Văn H và Hoàng Văn T thay cho bị cáo, tại phiên tòa chị Ng không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả là tự nguyện, có căn cứ cần chấp nhận.

Đối với người liên quan Lò Văn H và Hoàng Văn T có ý kiến đã thỏa thuận việc bồi hoàn với gia đình bị cáo nên cần chấp nhận.

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 con dao nhọn, loại dao bầu dài 35cm, quá trình điều tra bị cáo khai đã lấy con dao này ở bàn bán thịt lợn của anh Phan Thanh B, ở bản Đ 2- S – Y, cơ quan điều tra cho anh Bình nhận dạng xác định đây không phải là con dao của nhà anh Bình, do đây là công cụ bị cáo gây án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy hiệu YAMAHA Sirius có BKS 26B1-788.47 kèm theo 01 đăng ký mô tô xe máy mang tên Hoàng Văn Th, xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ra quyết định số 17/QĐ-VKS-P2 ngày 05/2/2018 trả lại cho chị Quàng Thị Ng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội Giết người.

1. Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 585 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận người bị hại Hoàng Văn D không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn Th phải bồi thường thiệt hại.

Chấp nhận chị Quàng Thị Ng không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn Th phải hoàn trả số tiền 20.000.000đ.

Chấp nhận người liên quan Lò Văn H, Hoàng Văn T không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi hoàn.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu, loại dao nhọn có chiều dài 35cm, phần lưỡi dao dài 20cm, chỗ rộng nhất 07cm, trên phần lưỡi dao có hai vết mẻ, vết thứ nhất dài 1cm cách đầu nhọn 12cm, vết thứ hai có chiều dài 0,3cm cách vết thứ nhất 03cm về phía chuôi dao; cán dao bằng gỗ màu đen dài 15cm, giáp phần lưỡi dao có hai đinh chốt bằng kim loại màu bạc.

Chấp nhận Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã trả cho chị Quàng Thị Ng 01 chiếc xe máy hiệu YAMAHA Sirius có BKS 26B1-788.47 kèm theo 01 đăng ký mô tô xe máy mang tên Hoàng Văn Th.

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ