vanban.org

Bản án 55/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Đăng T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2018. Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng T - "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 55/2018/HSST
Ngày: 30/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Ngọc Hùng.

2. Ông Vũ Xuân Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung – Thư ký Tòa án của

Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng

Nai: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2018/HSST ngày 18/4/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đăng T, sinh năm 1988. Tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nan; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1951 và bà Hồ Thị B, sinh năm 1956; Chung sống như vợ chồng với bà Trần Thị H, sinh năm 1991 (không đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Ngày 28/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/4/2013; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 07/01/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom (Có mặt).

- Bị hại:

1/ Ông Tô Thanh S, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

2/ Ông Đoàn Công T2, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

3/ Ông Nguyễn Ái Q, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

3/ Ông Đặng Minh Đ1, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

4/ Ông Nguyễn Thành T3, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

5/ Ông Nguyễn Hữu Thành A, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

6/ Ông Bảo L, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số 44/21 ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

7/ Ông Bảo T4, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số 44/21 ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

8/ Ông Nguyễn Hoàng T5.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

9/ Ông Lê Minh T6.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

10/ Bà Nguyễn Thị P.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Bá Lê V, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn với Nguyễn Lê Bá V nên vào khoảng 18 giờ ngày 05/02/2014, Nguyễn Đăng Đ rủ anh trai là Nguyễn Đăng T2 và Nguyễn Đăng T cùng Nguyễn Thành T3 (Đột), Đặng Minh Đ, Nguyễn Hữu Thành A (Kanu) đi tìm V để đánh. Trước khi đi T2 và T còn rủ thêm Bảo L, Bảo T4 và đối tượng tên Thạch (không rõ họ, địa chỉ) sau đó cả nhóm tập trung tại đường rày xe lửa thuộc ấp T, xã Đ, huyện T rồi tất cả cùng đi trên 05 xe mô tô. Cụ thể, Đặng Minh Đ điều khiển xe mô tô biển số 60K7-4539 chở Nguyễn Đăng Đ ngồi sau cầm đá; Nguyễn Hữu Thành A điều khiển xe mô tô biển số 60N6-3228 chở Nguyễn Thành T3; Bảo L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Nguyễn Đăng T2 ngồi sau cầm 01 ống tuýp dài khoảng 40cm; đối tượng tên Thạch điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Nguyễn Đăng T và Bảo T4 điều khiển xe mô tô biển số 19L1-2398 đi một mình.

Khi nhóm của Đ đi đến ấp T, xã Đ, huyện T, thấy Nguyễn Lê Bá V, Lê Minh T6, Đòan Công T5 và anh C cùng một số người bạn đang ngồi chơi. Thấy vậy, Đ nói với đồng bọn: “Bọn này lúc nãy đánh tao”, thì Bảo L, Bảo T4, T2, T và Đ xông vào nhà anh V dùng đá, gậy và mã tấu để đánh, chém nhóm của V, còn Đ1, A và T5 đứng ngoài trông xe. Bị nhóm của Đ đánh, V cùng mọi người bỏ chạy. Lúc này anh Nguyễn Hoàng T5 là người ở gần đó nghe có tiến ồn ào nên đi ra xem thì bị nhóm của Đ dùng mã tấu, tuýp sắt đuổi đánh, anh T5 chạy được một đoạt thì bị nhóm của Đ ném đá trúng vào sườn bên phải, anh T tiếp tục chạy đến trước cửa nhà chị Nguyễn Thị P thì nằm ngã quỵ. Thấy vậy, chị P chạy ra thì bị nhóm của Đ đánh trúng vào cằm, anh Nguyễn Ái Q (em trai của chị P) đi ra thì đồng bọn của Đ cầm mã tấu chém, anh Q dùng tay trái đỡ thì bị trúng vào tay trái, 01 nhát vào vai phải và một nhát vào sườn phải. Con trai của chị P là Tô Thành S thấy Q bị chém nên chạy ra kéo anh Q vào thì bị nhóm của Đ chém một nhát vào lưng. Anh Nguyễn Hoàng T6 đang nằm thấy mọi người bị chém nên đã đứng dậy nhặt một khúc tre đánh vào tay người cầm tuýp sắt. Anh Đoàn Công T5 thấy anh Q, anh S và chị P bị đánh nên lấy một khúc cây tre ở hàng rào nhà anh V dài khoảng 02 mét chạy đến đánh trả nhóm của Đ thì bị đánh tuýp sắt trúng đầu ngã xuống và bị chém đứt ngón tay cái của bàn tay phải. Khi Công an xã Đồi 61 đến hiện trường thì nhóm của Đ bỏ trốn. Tại hiện trường Công an thu giữ một xe mô tô biển số 19L1-2398, một mã tấu, 01 con dao thái lan.

Anh Tô Thành S, anh Đoàn Công T và Nguyễn Ái Q được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thống Nhất.

Theo Bản kết luận Giám định pháp y số: 0337/GĐPY/2014 ngày 04/4/2014 của Trung tâm giám định pháp y – Sở Y tế tỉnh Đồng Nai kết luận thương tích của anh Tô Thành Sơn như sau:

Thương tích vùng bả vai trái.

- Lâm sàng:

+ Để lại vết thương vùng bả vai trái kích thước 10cm, bờ mép sắc gọn.

+ Đã được Bệnh viện Đa khoa huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cắt lọc, dẫn lưu và khâu vết thương.

- Cận lâm sàng:

+ X-Quang: Không thấy tổn thương trên phi vai trái.

Hiện tại: Vết thương đã liền sẹo kích thước 04cm, bệnh nhân cử động vai trái còn đau.

(Vận dụng Chương IX, Điều 1, Mục 4 cho vết thương bả vai trái để lại sẹo kích thước 04cm, tỷ lệ 01%). Tỷ lệ % tổn thương cơ thể toàn bộ là 01% (Một) (Tạm thời).

Theo Bản kết luận Giám định pháp y số: 0338/GĐPY/2014 ngày 04/4/2014 của Trung tâm giám định pháp y – Sở Y tế tỉnh Đồng Nai kết luận thương tích của anh Đoàn Công Thành như sau:

Chấn thương đầu. Thương tích bàn tay phải.

- Lâm sàng:

+ Để lại sưng vùng nề vùng chẩm trái.

+ Đứt lìa, mất đốt ngón tay I tay phải.

+ Đã được Bệnh viện Đa khoa huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cắt lọc vết thương tạo mỏm cụt và điều trị nội khoa.

- Cận lâm sàng:

+ X-Quang:

 Mỏm cụt đốt xa ngón I tay phải.

 Không thấy tổn thương trên phim sọ.

Hiện tại: Bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt, không yếu liệt, vết sưng nề đã khỏi, mỏm cụt liền tốt.

(Áp dụng Chương VIII, Điều 4, Mục 5, khoản 1, điểm 4 cho thương tích làm mất đốt xa ngón tay I tay phải, tỉ lệ 15%). Tỷ lệ thương tật cơ thể toàn bộ là: 15% (Mười lăm) (Tạm thời).

Theo Bản kết luận Giám định pháp y số: 0425/GĐPY/2014 ngày 05/5/2014 của Trung tâm Giám định pháp y – Sở Y tế tỉnh Đồng Nai kết luận thương tích của anh Nguyễn Ái Quốc như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương đỉnh trái kích thước 10cm, gây nứt sọ đỉnh trái, điện não rối loạn vận mạch (Áp dụng Chương II, Điều 1, Mục 6). Tỷ lệ: 21%.

- Vết thương ngực phải gây gãy xương sườn số VI bên phải (Áp dụng Chương IV, Điều 2, Mục 1). Tỷ lệ: 03%.

- Vết thương vai phải kích thước 02cm và vết thương ngón II tay trái kích thước 02cm (Áp dụng Chương IV, Điều 1, Mục 1. Tỷ lệ: 01%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên là: 24% (Hai mươi bốn phần trăm) (Tạm thời).

Sau khi gây án, Nguyễn Đăng Đ cùng đồng phạm bị khởi tố, xử lý về tội: “Cố ý gây thương tích”, còn Nguyễn Đăng T bỏ trốn đến ngày 07/01/2018 bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom.

Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKS-HS ngày 16/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Đăng T có ý kiến: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện nay có mẹ già, con còn nhỏ nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về áp dụng pháp luật: Bị cáo thực hiện hành vi bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” vào ngày 05/02/2014 nên căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của người bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 18 giờ ngày 05/01/2014, tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai Nguyễn Đăng T đã cùng Nguyễn Đăng Đ, Nguyễn Đăng T2, Nguyễn Thành T3, Đặng Minh Đ, Nguyễn Hữu Thành A, Bảo L, Bảo T4 và đối tượng tên Thạch có hành vi dùng đá, gậy, mã tấu gây thương tích đối với ông Nguyễn Ái Q với tỷ lệ thương tật 24% (Hai mươi bốn phần trăm) (Tạm thời); gây thương tích đối với ông Đoàn Công T5 với tỷ lệ thương tật 15% (Mười lăm phần trăm) (Tạm thời); gây thương tích đối với ông Tô Thành S với tỷ lệ thương tật là 01% (Một phần trăm) (Tạm thời). Do đó, có đủ yếu tố kết luận bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1, khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Trong vụ án các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, bị cáo Tính là người tích cực thực hiện hành vi. Ngoài ra, bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo và xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại và được phía người bị hại làm đơn bãi nãi không thắc mắc khiếu nại gì; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có con còn nhỏ (sinh năm 2017); bị cáo có ông, chú ruột và bố là người có công trong kháng chiến nên cần áp dụng điểm b, p khoảng 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: đã được xem xét, xử lý tại Bản án số 241/2014/HSST ngày 26/12/2014 và Bản án số 84/2015/HSST ngày 10/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 47; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt: Nguyễn Đăng T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2018.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ