vanban.org

Bản án 55/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội "Giết người".

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo Trần Văn C bồi thường. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong bên ngoài ghi có 04 mẫu máu; 01 chiếc kiềng gang loại kiềng 3 chân; 01 niêm phong bên ngoài ghi có 01 đoạn cây gỗ c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội "Giết người".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2018/HS-ST
Ngày 25-10-2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Hiển.

Thẩm phán: Ông Bằng Công Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuấn, ông Hoàng Gia Huệ, ông Nguyễn Đức Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm 1972 tại tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở tại xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa lớp 2; dân tộc Tày; giới tính Nam; không theo tôn giáo nào; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Phương Thị T (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị T1 và 01 con; không có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên từ ngày 14/01/2018 đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Thị H, Văn phòng luật sư Việt Bắc thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1977 (đã chết). Người đại diện hợp pháp bị hại:

+ Ông Trần Văn B, sinh năm 1961 (là anh trai anh Đ); trú tại xóm Đ, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Ông Trần Văn Ch, sinh năm 1965 (là anh trai anh Đ); trú tại xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

+ Bà Trần Thị N, sinh năm 1967 (là chị gái anh Đ); trú tại xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Ông Trần Văn Tr, sinh năm 1970 (là anh trai anh Đ); trú tại xóm Đồng Kem 4, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Ông Trần Văn T, sinh năm 1982 (là em trai anh Đ); trú tại xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người được đại diện bị hại cử tham gia tố tụng (văn bản lập ngày 07/03/2017): Chị Hoàng Thị Ph, sinh năm 1986 (là em dâu anh Đ); nơi cư trú tại xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn C, sinh năm 1972 có vợ là Vũ Thị T1 ở xóm B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn nhưng từ khoảng năm 2000 hai người không còn chung sống với nhau nữa nên C bỏ về cùng ở chung với em ruột là Trần Văn Đ, sinh năm 1977 (anh Đ chưa có vợ con) tại ngôi nhà sàn do bố mẹ để lại ở xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 15 giờ ngày 13/01/2018, C đi lấy củi về nhà thì thấy anh Đ có biểu hiện say rượu và đang đập phá đồ dùng trong gia đình. Anh Đ chửi C nhiều lần về việc C không chịu đi làm, chỉ một mình Đ đi làm nuôi cả hai anh em. C quát Đ "Mày làm như thế là không được" nhưng Đ vẫn tiếp tục vứt đồ đạc ra ngoài. Do tức giận nên C đi khỏi nhà đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì quay trở về nhà thì Đ tiếp tục nói "Mắt mày không sáng hay sao mà đi làm về không nhìn thấy". C quát "Anh đi làm, không phải không nhìn thấy Đ đâu nhá, mày làm như vậy là không được đâu nhá". Đ chửi C "Bố đẻ làm gì lắm, đẻ ra không giáo dục được mày". Thấy Đ lôi cả bố đã chết ra chửi, C bực tức quát "Mày làm như thế là không được đâu nhá, uống rượu vào đập phá đồ đạc mang cả bố mẹ ra chửi". Trong lúc cãi nhau, anh Đ cầm 01 khúc củi dài 60cm, Đ kính 07cm ném về phía C nhưng không trúng. C liền nhặt lấy khúc củi tiến lại gần anh Đ ở tư thế đứng đối diện cách anh Đ khoảng hơn 01m, C cầm khúc củi bằng tay phải đánh một nhát vào vùng mang tai trái của anh Đ. Sau đó, C chuyển khúc củi từ tay phải sang tay trái đánh tiếp nhát thứ hai trúng vào vùng mang tai phải của anh Đ. Do lòng bàn tay trái của C bị cây nứa cứa rách da từ trước nên C tiếp tục chuyển khúc củi từ tay trái sang tay phải đánh nhát thứ ba trúng vào vùng phía trên mang tai trái của anh Đ làm anh Đ khuỵu chân ngồi xổm xuống. C vứt khúc củi xuống sàn nhà rồi dùng tay trái cầm chiếc kiềng bằng kim loại đã bị gãy một phần đánh anh Đ. C đứng ở tư thế đối diện, cúi người xuống đánh nhiều nhát vào vùng cẳng chân của anh Đ. Sau khi bị đánh, anh Đ nằm bất động tại sàn nhà. Khi sự việc xảy ra, hai cháu Nguyễn Công Minh sinh năm 2011 là hàng xóm và Trần Văn D sinh năm 2007 là cháu ruột

2

của C và Đ quan sát thấy nên đã về nhà báo cho người thân đến giúp. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1980 là bố cháu M cùng quần chúng nhân dân đến đưa anh Đ đi cấp cứu tại trạm Y tế xã YN thì anh Đ chết. C bỏ trốn lên rừng sau nhà đến khoảng 07 giờ ngày 14/01/2018 C về nhà biết tin anh Đ chết nên đã đến công an xã YN đầu thú.

Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ án là tại nhà ở của Trần Văn Đ và Trần Văn C thuộc xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên là kiểu nhà sàn bằng gỗ, mái lợp lá cọ, nhà có diện tích 70m2, có một cầu thang lên xuống bằng gỗ và cửa ra vào ở phía Đông. Cửa bằng gỗ, hai cánh mở vào phía trong nhà, có kích thước (1m72 x 86cm). Sàn nhà là các tấm phản bằng tre ghép lại. Tại phía trong nhà, cánh cửa ra vào 2m90 về phía Tây có một khu bếp để nấu. Xem xét cụ thể tại hiện trường thấy: Tại sàn nhà, cách ngang khu vực bếp nấu về phía Nam 01m phát hiện một chăn, hoa văn màu vàng, trên chăn có bám dính hai vết máu. Một vết máu đã khô, có kích thước (2.5cm x 01cm) (Vết máu số 1). Một vết máu ướt có kích thước (1.5cm x 1.3cm) (Vết máu số 2). Cách vị trí phát hiện chăn, hoa văn màu vàng 50cm về phía Tây, tại sàn nhà trên tấm phản bằng tre phát hiện 01 vết máu nhỏ giọt có kích thước (2.5cm x 2cm) (Vết máu số 3). Tiếp sát bếp nấu vế phía Đông là khu vực để củi đun của bếp, có nhiều khúc củi gỗ có kích thước khác nhau. Tại vị trí này phát hiện một đoạn cây gỗ tròn có Đ kính 07cm, dài 60cm, một đầu của khúc củi cháy dở, đầu còn lại có hình chữ V, một cạnh dài 10cm, một cạnh dài 5cm.Tại khu vực tiếp sát bếp nấu ở phía Tây và phía Bắc phát hiện một kiềng bằng gang, kiểu loại kiềng 03 chân bị gẫy vỡ thành nhiều mảnh, đoạn, vết gẫy vỡ còn mới.Tại vị trí tiếp sát bếp nấu về phía Tây Bắc phát hiện 05 đoạn gỗ Đ kính trung bình 4.5cm, bị gẫy vỡ, vết gẫy vỡ còn mới. Tiếp sát bếp nấu về phía Tây có mắc treo một võng màu xanh, tiếp sát về phía trong (Phía Tây) kê 01 giường ngủ bằng gỗ, phía trên có mắc màn. Trên sàn nhà phía dưới võng màu xanh có nhiều mảnh sứ, ấm chén bị vỡ nằm rải rác trong diện kích thước (2.5cm x 1.2cm). Tại mặt đất phía dưới khu vực bếp nấu của nhà sàn phát hiện nhiều mảnh sứ ấm chén bị vỡ nằm rải rác trong diện kích thước (1.5cm x 1.4cm). Dấu vết, tài liệu mẫu vật thu giữ: Thu mẫu máu tại vị trí số 01, 02 và số 03, thu đoạn cây bằng gỗ có đầu cháy dở, các mảnh đoạn kiềng bằng gang, 05 đoạn cây gỗ bị gãy vỡ, vết gãy vỡ còn mới.

Biên bản kết quả khám nghiệm tử thi Trần Văn Đ xác định:

Khám bên ngoài: Vùng chẩm trái, cách sau gốc tai trái 05cm có vết xây xát da bầm tím, kích thước (07cm x 3.5cm) (Vết số 1). Vùng đỉnh phải, các trên đỉnh vành tai phải 07cm có vết xây sát da bầm tím, kích thước (1.5cm x 0.1cm) (Vết số 2). Đỉnh bả vai trái có vết xây sát da bầm tím, kích thước (07cm x 06cm). Gò má trái có vết xước da, kích thước (02cm x 0.5cm). Mu bàn tay phải bầm tím rải rác. Cổ tay, mu bàn tay trái xây sát bầm tím rải rác. Mu bàn chân trái có vết rách da cơ kích thước (05cm x 04cm). Mặt trước cẳng chân mà mu bàn chân phải xây sát da rải rác.

3

Mổ tử thi: Vết số 1 tụ máu dưới da và cơ kích thước (4,5cm x 3,5cm). Vết số 2 tụ máu dưới da và cơ kích thước (04cm x 2.5cm). Chảy máu dưới màng nhện toàn bộ hai bán cầu não, phần nặng nhất tập trung tại vùng thùy chẩm trái. Vỡ xương chẩm trái, Đ vỡ từ nền sọ lên đến khớp đỉnh chẩm trái dài 07cm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 365/KL-PC54 ngày 09/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Trần Văn Đ, sinh năm 1977, HKTT: Xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên bị ngoại lực tác động vào vùng chẩm trái và đỉnh phải gây chấn thương sọ não, vỡ xương chẩm trái, chảy máu tươi dưới nhện toàn bộ hai bán cầu não, tổn thương thần kinh trung ương dẫn đến chết.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập mẫu vật để trưng cầu giám định và trưng cầu giám định tâm thần đối với Trần Văn C kết quả như sau:

Tại Bản kết luận giám định số 557/C54(TT3) ngày 30/3/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: các mẫu ghi thu tại vị trí số 1, số 2, số 3 tại hiện trường là máu người và là máu của Trần Văn Đ. Không phát hiện dấu vết máu người bám dính trên đoạn gỗ và các mảnh kiềng.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 156/KLGĐ ngày 22/5/2018 của Viện Pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y tế kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Trần Văn C bị bệnh rối loạn tâm thần không biệt định cách khác. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F99. Tại các thời điểm trên, bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS-P2 ngày 14/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố Trần Văn C về tội "Giết người" theo n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn C cũng khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã quy kết, bị cáo thừa nhận cái chết của anh Trần Văn Đ là do bị cáo gây ra.

Những người làm chứng cháu Nguyễn Công M, cháu Trần Văn Dgiữ nguyên lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra. Những người đại diện hợp pháp của anh Đ có mặt tại phiên tòa khẳng định Trần Văn C là người đánh chết Trần Văn Đ; tuy nhiên, họ đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên cáo

4

trạng truy tố đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt Trần Văn C từ 16 đến 18 năm tù và đề nghị xử lý các vật chứng thu giữ theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo có quan điểm nhất trí với tội danh mà cáo trạng đã truy tố nhưng cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo đánh anh Đ là do bị hại Đ uống rượu say ném đồ đạc ra sàn nhà. Bị cáo có nhân thân tốt, trình độ văn hóa thấp, bị cáo khi phạm tội mắc bệnh rối loạn loại phân liệt, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo rất thành khẩn, tại phiên tòa đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ đó người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất có thể để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay về nội dung cơ bản là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và nhiều tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Theo đó có đủ căn cứ kết luận: Trần Văn C và anh Trần Văn Đ là hai anh em ruột sống chung một nhà tại xóm SB, xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 17 giờ ngày 13/01/2018 do mâu thuẫn tức thời trong cuộc sống hàng ngày, Đ cầm 01 khúc củi dài 60cm, Đ kính 07cm ném về phía C nhưng không trúng. C liền nhặt lấy khúc củi do anh Đ ném tiến lại gần anh Đ vụt nhiều nhát vào mang tai anh Đ làm anh Đ ngã ra sàn nhà. C vứt khúc củi xuống sàn nhà rồi tiếp tục cầm chiếc kiềng bằng kim loại đã bị gãy một phần vụt vào vùng cẳng chân của anh Đ làm anh Đ nằm bất động tại sàn nhà. Sau khi sự việc xảy ra, anh Đ được đưa đến Trạm Y tế xã YN để cấp cứu nhưng anh Đ đã bị chết.

Việc làm và ý thức chủ quan của bị cáo Trần Văn C nêu trên có đủ dấu hiệu của tội "Giết người". Do đó, bị cáo bị truy tố về tội danh như nêu trên theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20, tù chung thân hoặc tử hình:

a)...

n) Có tính chất côn đồ.

Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng bởi lẽ hành vi của bị cáo đã tước đi sinh mạng của anh Đ là em ruột của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn trái với đạo lý con người; gây dư luận

5

xấu và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó việc xử lý nghiêm đối với bị cáo là cần thiết.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là đầu thú, thành khẩn khai báo, người phạm tội có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt: Xét trong trường hợp cụ thể này, Hội đồng xét xử thấy có thể xử phạt bị cáo mức án 15 năm tù thì tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng được xử lý theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Với phân tích trên thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của người bào chữa được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội "Giết người".

1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn C 15 (mười lăm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo Trần Văn C bồi thường.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong bên ngoài ghi có 04 mẫu máu; 01 chiếc kiềng gang loại kiềng 3 chân; 01 niêm phong bên ngoài ghi có 01 đoạn cây gỗ có dạng chữ V; 05 đoạn cây gỗ bị gẫy vỡ, vết gẫy vỡ còn mới.

(Các vật chứng trên hiện đang có tại kho của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6

Án xử công khai có mặt bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp của bị hại (ông Trần Văn Ch), báo cho những người này biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt (ông B, bà N, ông Tr, ông T) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ