- Tranh chấp gì? án hình sự — "GIÀNG A T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS ngày 04/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB.
- Căn cứ chính? luật giám định; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2018/HS-PT Ngày 26/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sơn.
Ông Hoàng Văn Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh YB, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 799/2017/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo Giàng A T, Sùng Nhà S do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2017/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh YB.
- Các bị cáo bị kháng nghị:
1. Giàng A T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ 5A thị trấn Nông Trường NL, huyện VC, tỉnh YB; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Súa D (đã chết) và bà Trang Thị L; có vợ là Sùng Thị D và 04 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án: Bản án số 42/2012/HSST ngày 29/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đăk Lăk, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 14/3/2017, tạm giam ngày 17/3/2017 tại Trại Tạm giam Công an tỉnh YB, có mặt.
2. Sùng Nhà S (tên gọi khác Sùng A S), sinh năm 1952; nơi cư trú: Tổ 5A, thị trấn Nông trường NL, huyện VC, tỉnh YB; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng Tùng D (Sùng A D) và bà Giàng Thị Ch (đều đã chết); có vợ là Lý Thị D và 10 con (lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 17/03/2017, tạm giam ngày 21/3/2017 tại Trại Tạm giam Công an tỉnh YB, có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo: ông Đỗ Viết Kh - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh YB.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 14/3/2017, tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh YB phát hiện tại nơi ở của Giàng A T thuộc tổ 5A, thị trấn Nông Trường NL, huyện VC, tỉnh YB có biểu hiện nghi vấn mua bán ma túy nên kiểm tra, một đối tượng bỏ chạy còn Giàng A T bị bắt giữ. Tổ công tác đã thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc một gói nilon màu trắng bên trong có chất bột nén mầu trắng. T khai nhận đó là Hêrôin T mua của Sùng Nhà S. Cơ quan điều tra còn thu giữ của T 150.000 đồng và tiến hành khám xét nơi ở của T thu giữ một điện thoại di động và 5.000.000 đồng.
Ngày 17/3/2017, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh YB đã khám xét nơi ở và tiến hành bắt khẩn cấp đối với Sùng Nhà S để diều tra làm rõ. Tại cơ quan điều tra Sùng Nhà S khai nhận, cách ngày bị bắt khoảng 15 ngày S đi chợ ML, thị xã NL, tỉnh YB có gặp một người tên là Páo ở tỉnh Sơn La, sau đó Páo có đến nhà S chơi, Páo nói có ma túy bán, S bảo Páo mang đến S sẽ mua. Ngày 12/3/2017 Páo mang sang bán cho S 09 chỉ Hêrôin với giá 18.000.000 đồng. Trưa ngày 14/3/2017 T đến hỏi mua, S và T thỏa thuận giá bán 3.000.000 đồng/chỉ và khi nào bán được thì T trả tiền cho S. S đã đưa cho T gói ma túy mà trước đó S đã mua của Páo.
Kết quả điều tra thể hiện: Giàng A T khai nhận ngày 13/3/2017 có một người đàn ông đến nhà T và giới thiệu tên là H nhà ở xã TBL, huyện VC, tỉnh YB, H nói cần một ít Hêrôin để sử dụng, T đã bán cho H 01 gói ma túy giá 100.000 đồng, số ma túy này T vừa mua được của một người đàn ông không biết tên ở Làng T, xã TĐ, huyện TT, tỉnh YB. Trưa ngày 14/3/2017 H đi đến nhà T và nhờ T mua hộ 1 cây hêrôin. Giàng A T đồng ý và gọi điện cho Sùng Nhà S và hỏi S có Hêrôin bán không, S trả lời có. T bảo H ở nhà T chờ để T đi lấy ma tý. T đến nhà S và mua của S 09 chỉ Hêrôin với giá 3.000.000 đồng/chỉ và thoả thuận khi nào bán được T sẽ trả tiền cho S. T cầm gói Hêrôin cho vào túi quần mang về với mục đích bán cho H với giá 4.000.000 đồng/chỉ, khi về đến nhà chưa kịp bán cho H thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại bản kết luận giám định số: 72/GĐMT ngày 24/3/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh YB kết luận:
- Chất bột nén màu trắng thu giữ của Giàng A T có trọng lượng là 32,93 gam; 0,1 gam trích từ 32,93 gam chất bột nén mầu trắng gửi giám định có chất ma tý, loại Heroine; Heroine nằm trong Danh mục I, STT: 20, Nghị định 82/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại bản Kết luận giám định số 353/C54(TT2) ngày 18/8/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an xác định hàm lượng Hêrôin là 38,8%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 21/9/2017, Tòa án nhân dân tỉnh YB đã quyết định: Tyên bố các bị cáo Giàng A T và Sùng Nhà S (tên gọi khác Sùng A S) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tý”.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt: 14/3/2017.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Nhà S (tên gọi khác Sùng A S) 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt: 17/3/2017,
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS, kháng nghị phần áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật HÌnh sự của Bản án sơ thẩm; đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự để tăng hình phạt đối với Giàng A T và Sùng Nhà S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS ngày 04/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB; đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, xử phạt bị cáo Giàng A T và Sùng Nhà S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt tù đối với cả hai bị cáo.
- Hai bị cáo Giàng A T và Sùng Nhà S khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải và nhờ người bào chữa trình bày lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
- Người bào chữa cho hai bị cáo có quan điểm: Tòa án nhân dân tỉnh YB trưng cầu giám định hàm lượng Hêrôin làm căn cứ xác định tình tiết định khung hình phạt với các bị cáo tại điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, hình phạt dành cho hai bị cáo là phù hợp. Không nhất trí với Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS ngày 04/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, và tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp khách quan với: Vật chứng thu giữ, Kết luật giám định số 72/GĐMT ngày 24/3/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh YB và Kết luận giám định số 353/C54(TT2) ngày 18/8/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an; phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ căn cứ xác định: Ngày 14/3/2017, bị cáo Giàng A T đã có hành vi mua 32,93 gam chất ma túy là Hêrôin của bị cáo Sùng Nhà S với mục đích để bán kiếm lời.
Tại bản Kết luận giám định số 353/C54(TT2) ngày 18/8/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an xác định hàm lượng Hêrôin là 38,8%. Căn cứ vào hàm lượng đã được giám định, Bản án sơ thẩm đã xác định khối lượng Hêrôin tinh chất sau giám định là 12,77 gam là có căn cứ và chính xác.
Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định:
"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm năm
b) Hêrôin hoặc Côcain có trọng lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam".
Vì vậy, Bản án sơ thẩm đã áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự để xác định trách nhiệm hình sự của hai bị cáo Giàng A T và Sùng Nhà S là chính xác, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm còn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự với cả hai bị cáo do khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự với bị cáo Giàng A T do tái phạm. Xử phạt bị cáo Giàng A T 10 (mười) năm tù; xử phạt bị cáo Sùng Nhà S (tên gọỉ khác Sùng A S) 09 (chín) năm tù là không nhẹ, phù hợp với các đặc điểm về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS ngày 04/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS ngày 04/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh YB.
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh YB như sau: Tyên bố các bị cáo Giàng A T và Sùng Nhà S (tên gọi khác Sùng A S) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tý”.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 14/3/2017.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Nhà S (tên gọỉ khác Sùng A S) 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt là ngày 17/3/2017.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tyên án.
CÁC THẨM PHÁN
| Nguyễn Văn Sơn Hoàng Văn Hạnh | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Thanh |