- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hấn - Nữa"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Hồng H kiện chị Phan Kim N (Phan Thị N) đòi thanh toán nợ vay.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2017/DS-ST Ngày 22-9-2017 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Thanh Hải.
Ông Phạm Văn Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 tháng 8 năm 2017 và ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2017/TLST- DS ngày 17 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2017/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2017 và thông báo số: 10/TB-TA ngày 11 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1986; cư trú tại khóm G, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Phan Kim N (Phan Thị N), sinh năm 1986; cư trú tại khóm G, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 5 năm 2017 của chị Huỳnh Ngọc H và quá trình tố tụng tại Tòa án chị H trình bày: Vào tháng 8 năm 2015 âm lịch, chị có cho chị Phan Kim N (Phan Thi N) vay số tiền 72.000.000 đồng, đến ngày 08/02/2016 âm lịch chị N làm giấy mượn tiền và hứa trong thời gian một tháng sẽ trả đủ vốn và lãi, nếu thời gian hai tháng không đóng lãi thì chị H có quyền lấy nhà của chị. Thời gian vay đến nay, chị N không trả lãi và vốn nên chị yêu cầu chị N có trách nhiệm trả lại cho chị số tiền 72.000.000 đồng. Ngoài ra, chị không yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai và đơn đề nghị vắng mặt cùng đề ngày 19 tháng 8 năm 2017 chị Phan Thị N (Phan Kim N) trình bày: Chị không có vay mượn tiền của chị H và cũng không có viết biên nhận nợ cho chị H nên chị không chấp nhận yêu cầu của chị H đặt ra và đề nghị được vắng mặt khi giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiên tham gia phiên tòa: Vụ án được Tòa án thụ lý là đúng thẩm quyền, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ngọc H, buộc chị Phan Kim N (Phan Thị N) trả cho chị H 72.000.000 đồng và buộc chị N phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Vụ việc theo yêu cầu của chị Huỳnh Hồng H được Tòa án thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 23 tháng 8 năm 2017, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị Huỳnh Ngọc H và chị Phan Kim N (Phan Thị N), trong quá trình xét xử do cần thu thập, bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử thống nhất tạm ngừng phiên tòa. Ngày 22 tháng 9 năm 2017, phiên tòa được mở lại để tiếp tục xét xử vụ án và thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển tham gia phiên tòa theo quy định. Đối với chị Phan Kim N (Phan Thị N) có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt chị N.
Mặc dù, chị N xác định không có vay mượn nợ đối với chị H nhưng chị H đã cung cấp cho Tòa án “Giấy mượng tiền” ngày 08/02/2016 và theo chị H xác định là do chính chị N viết. Tòa án đã trưng cầu giám định về chữ viết trong “Giấy mượng tiền” ngày 08/02/2016 với chữ viết của chị N thể hiện tại bản tự khai và đơn đề nghị vắng mặt cùng ngày 19/8/2017 và căn cứ vào kết luận giám định số: 179-GĐ-2017 ngày 05/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an nhân dân tỉnh Cà Mau xác định là do cùng một người viết ra, Như vậy, chữ viết trong “Giấy mượng tiền” ngày 08/02/2016 được xác định là do chị N viết nên có căn cứ chứng minh sự việc vay nợ giữa chị H và chị N là có thực tế. Theo “Giấy mượng tiền” ngày 08/02/2016 thể hiện nội dung chị N vay nợ của chị H, có thỏa thuận lãi và thời hạn thanh toán, thời điểm giao kết hợp đồng được xác lập trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nhưng hợp đồng đang được thực hiện mà nội dung và hình thức phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 nay xảy ra tranh chấp những quy định về hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 được áp dụng để giải quyết.
Theo “Giấy mượng tiền” ngày 08/02/2016 ghi nhận đã thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nên hợp đồng vay tài sản giữa chị H và chị N được xác định là hợp pháp và buộc các bên phải tuân thủ theo những nội dung đã cam kết. Căn cứ vào kết luận giám định số: 179-GĐ-2017 ngày 05/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an nhân dân tỉnh Cà Mau chứng minh “Giấy mượng tiền” là do chính chị N viết và trong “Giấy mượng tiền” thể hiện việc chị N vay của chị H số tiền 72.000.000 đồng nên buộc chị N có trách nhiệm thanh toán số tiền 72.000.000 đồng cho chị H là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự.
Do yêu cầu của chị H được chấp nhận nên chị N phải chịu chi phí giám định với số tiền 3.260.000 đồng, phần tiền tạm ứng chi phí giám định chị H đã nộp nên buộc chị N có trách nhiệm giao lại cho chị H theo quy định tại Điều 161 và Điều 162 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị N còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Do yêu cầu của chị H được chấp nhận nên chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% trên tổng số tiền phải thanh toán cho chị H: 72.000.000 đồng X 5% = 3.600.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp, chị H được nhận lại.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 228, Điều 147, Điều 161 và Điều 162 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử vắng mặt chị Phan Kim N (Phan Thị N).
Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Hồng H kiện chị Phan Kim N (Phan Thị N) đòi thanh toán nợ vay. Buộc chị Phan Kim N (Phan Thị N) có trách nhiệm trả cho chị Huỳnh Hồng H số tiền vay 72.000.000 đồng (Bảy mươi hai triệu đồng).
Buộc chị Phan Kim N (Phan Thị N) có trách nhiệm trả cho chị Huỳnh Hồng H số tiền chi phí giám định 3.260.000 đồng (Ba triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng)
Kể từ khi chị Huỳnh Hồng H có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị Phan Kim N (Phan Thị N) chậm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên thì hàng tháng chị N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Phan Kim N (Phan Thị N) phải chịu 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Phần tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Huỳnh Hồng H đã nộp 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013624 ngày 17/5/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, chị H được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Hải |