- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Chung Lưa đáo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo LVC phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN TỈNH NA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54a/2021/HSST Ngày 25-11-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN, TỈNH NA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trọng Dự;
2. Bà Lê Thị Lan;
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2021/HSST- QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ tên: LVC, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1996 tại xã HL , huyện HN, tỉnh NA; nơi cư trú: Xóm 04, xã HL, huyện HN, tỉnh NA; nghề nghiệp, lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông LVĐ và bà BTL; vợ: TTC và có 03 con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Bản án số 34a/2020/HSST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện HN xử phạt LVC 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2020. Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 9 năm 2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh NVT, sinh năm: 1990; trú tại: Xóm 2, xã HL, huyện HN, tỉnh NA (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh PVK, sinh năm: 1990; trú tại: Xóm Phúc Điền, xã HT, huyện HN, tỉnh NA (Vắng mặt)
Người làm chứng: Ông HNQ, sinh năm 1962; cư trú tại: Xóm 4, xã HL, huyện HN, tỉnh NA (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 23 tháng 9 năm 2021, do muốn có tiền để mua ma túy và trả tiền lãi mà trước đó cầm cố tài sản nên LVC đã nảy sinh ý định lừa mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu trắng đen, biển kiểm soát 37B1 - 813.85 của anh NVT (sinh năm 1990), trú tại: xóm 2, xã HL, huyện HN, tỉnh NA để đem đi cầm cố lấy tiền. C biết đang đang xây bờ rào cho ông HNQ ở xóm 4, xã HL, huyện HN nên C đi đến gặp anh T và nói “Cho em mượn xe để đi chở vợ đi làm về cấy”, anh Tđồng ý và nói “Đi nhanh nhanh rồi về”. Sau khi lừa mượn được xe môtô, C gọi điện thoại cho PVK (sinh năm 1990), cư trú tại xóm Phúc Điền, xã HT, huyện HN, NA nói “Anh ở nhà không em ra chơi”, K nói “Có”. Khoảng 30 phút sau, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu trắng đen, biển kiểm soát 37B1 - 813.85 của anh Tđến nhà gặp K. Ngồi chơi một lúc, C nói với K “Có ai không cầm hộ cho em cái xe”, K nói “Không có ai cả”, C nói “Giúp em cái”, K trả lời “Rứa thì để xe đó, cầm lấy ba triệu, mai đưa tiền ra cho tau mà lấy xe”. C đồng ý và gọi điện thoại cho một người đàn ông mà trước đó C đã từng mua ma túy (C không nhớ tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại) mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, rồi đến cầu chợ Già thuộc xã HT, huyện HN, NA gặp người đàn ông đó. C đưa cho người này số tiền 1.000.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho C một gói ma túy đá được gói ngoài bằng bao Potylen trong suốt. Sau khi mua được ma túy, C bắt xe taxi về nhà hết 200.000 đồng. Số ma túy mua được C đã sử dụng hết. Số tiền còn lại là 1.800.000 đồng C sử dụng mua thẻ chơi game.
Ngày 24 tháng 9 năm, anh NVT lên Công an xã HL, huyện HN để trình báo về việc bị LVC chiếm đoạt tài sản. Ngày 27 tháng 9 năm 2021, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên LVC đã lên cơ quan Công an huyện HN để đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HN kết luận: Chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS5C64, biển kiểm soát 37B1-813.85 loại xe hai bánh, dung tích 110cc có trị giá là 5.900.000 đồng.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, CSĐT Công an HN đã thu giữ: xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS5C64, biển kiểm soát 37B1-813.85 loại xe hai bánh, dung tích 110cc. Hiện đã trả lại cho anh NVT, là chủ sở hữu.
Về dân sự: Anh NVT, Anh PVK không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Bản Cáo trạng số 60/CT-VKS-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh NA đã truy tố bị cáo LVC về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện HN giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội nên VKS giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo LVC phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, xử phạt LVC từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2021. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện HN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau; Phù hợp với đơn trình báo của bị hại, phù hợp với lời khai của Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại nhà ông HNQ ở xóm 4, xã HL, huyện HN, bằng thủ đoạn gian dối, LVC đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS5C64, biển kiểm soát 37B1- 813.85 của anh NVT (sinh năm 1990), trú tại: xóm 2, xã HL, huyện HN, tỉnh NA trị giá 5.900.000 đồng để đem đi cầm cố lấy 3.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định " Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Căn cứ vào giá trị tiền và đối chiếu với quy định của Điều luật nêu trên thì hành vi của bị cáo LVC có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa C.
Về tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 06 tháng 12 năm 2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt 12 tháng tù của bản án số 34a/2020/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện HN. Đến ngày 23 tháng 9 năm 2021 bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tự nguyện ra đầu thú được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Tòa không xem xét.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với PVK là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS5C64, biển kiểm soát 37B1-813.85. Khi nhận cầm cố, anh K không biết chiếc xe trên là do LVC phạm tội mà có, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo LVC phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo LVC 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 27 tháng 9 năm 2021.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân dân tỉnh NA trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo của Người bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện HN; - Công an huyện HN; - Chị cục THA huyện HN; - Bị cáo; Bị hại; NLQ; - Lưu HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phan Hƣơng |