vanban.org

Bản án 549/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 549/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Trần Ngọc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Lý Chung;

2. Ông Lâm Huỳnh Đệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thanh Hằng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử

sơ thẩm công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 484/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tất A, sinh năm 1970; địa chỉ: Xxx/x đường Lãnh

Binh Thăng, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Lềnh Hấm K, sinh năm 1971, địa chỉ: Xxx/x đường

Lãnh Binh Thăng, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, tường trình và các biên bản hòa

giải, nguyên đơn trình bày như sau:

Bà Tất A và ông Lềnh Hấm K chung sống hợp pháp với nhau theo Giấy

chứng nhận đăng ký kết hôn số Xx, do Ủy ban nhân dân Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/6/1998.

Vợ chồng chung sống có hai con chung: Lềnh Sau D, nữ, sinh ngày:

20/8/1998 và Lềnh Tú D1, nữ, sinh ngày 21/11/2003.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu

thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống về nhiều mặt, ông Lềnh Hấm K thường gây rối tại nơi bà Tất A buôn bán, cuộc sống ngày càng khó khăn; cả hai sống ly thân gần một năm. Nay nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, bà Tất A yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 giải quyết cho ly hôn với ông Lềnh Hấm K để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Các con đã thành niên, có khả năng lao động nên

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

2. Bị đơn: Tại các bản tự khai ngày 20/12/2022 và biên bản hòa giải

đoàn tụ không thành ngày 20/12/2022, ông Lềnh Hấm K trình bày:

Ông Lềnh Hấm K xác nhận lời trình bày của bà Tất A về quan hệ hôn

nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng sự thật. Hai vợ chồng có tranh cãi, cả hai sống ly thân với nhau. Tuy nhiên, ông K cho rằng mâu thuẫn vợ chồng có thể hàn gắn, không đồng ý ly hôn, vợ chồng tự giải quyết với nhau và không đến Tòa án theo triệu tập.

Theo kết quả xác minh của Công an Phường x, Quận 11, Thành phố

Hồ Chí Minh: Đương sự Lềnh Hấm K, sn 1971 có HKTT Xxx/x đường Lãnh Binh Thăng, Phường x, Quận 11 và thực tế cư ngụ tại địa chỉ trên.

Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục

chung.

3. Tại phiên tòa hôm nay:

a) Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

b) Bị đơn đã được Tòa án nhân dân Quận 11 triệu tập hợp lệ nhưng bị

đơn vắng mặt, không có lý do.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật như sau:

a) Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và

Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử.

b) Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tất A

- Về con chung: Lềnh Sau D (nữ) sinh ngày 20/8/1998 và Lềnh Tú D1

(nữ) sinh ngày 21/11/2003 đã thành niên, không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết

- Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của

pháp luật là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Tất A và ông Lềnh Hấm K chung sống trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Nay bà Tất A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lềnh Hấm K, bị đơn cư trú tại Quận 11 nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 11 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn:

Ngày 22/7/2023, nguyên đơn là bà Tất A có đơn đề nghị xét xử vắng

mặt nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn là ông Lềnh Hấm K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai

nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

3.1 Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Bà Tất A và ông Lềnh Hấm K tự tìm hiểu rồi đăng ký kết hôn năm

1998 trên cơ sở tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bà

Tất A và ông Lềnh Hấm K bất đồng quan điểm trong cuộc sống về nhiều mặt. Hai người thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Nay nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, bà Tất A yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 giải quyết cho ly hôn với ông Lềnh Hấm K để hai bên sớm ổn định cuộc sống và để rõ ràng về mặt pháp lý.

Căn cứ trình bày của đương sự có thể xác định mâu thuẫn giữa bà

Tất A và ông Lềnh Hấm K là trầm trọng và không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét, tại buổi tiếp xúc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,

công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã phân tích, hòa giải và tạo điều kiện về thời gian cho hai bên đương sự xem xét lại bản thân, trao đổi và tìm cách khắc phục để vợ chồng hàn gắn. Nhưng ông Lềnh Hấm K không có giải pháp nào, nguyên đơn đã tạo điều kiện để ông Lềnh Hấm K có thời gian sửa đổi, vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng tình trạng hôn nhân không tiến triển theo chiều hướng tốt mà ngược lại còn căng thẳng hơn.

Ông Lềnh Hấm K mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 11 tống đạt

các văn bản tố tụng, giấy triệu tập đầy đủ và hợp lệ nhưng không đến Tòa án. Điều này cho thấy rằng ông Lềnh Hấm K không mong muốn và không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi

vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Tất A và ông Lềnh Hấm K đã

đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được, có duy trì hôn nhân cũng chỉ là hình thức. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Tất A xin ly hôn với ông Lềnh Hấm K.

3.2 Về con chung: Hai con chung là Lềnh Sau D, nữ, sinh ngày:

20/8/1998 và Lềnh Tú D1, nữ, sinh ngày 21/11/2003 đã thành niên, có khả năng lao động, bà Tất A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tất A khai không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí:

Bà Tất A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng

(Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu của bà Tất A.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Tất A và ông Lềnh Hấm K.

Giấy chứng nhận kết hôn số Xx do Ủy ban nhân dân Phường x, Quận

11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/6/1998 không còn giá trị.

2. Về con chung: Hai con chung là Lềnh Sau D, nữ, sinh ngày:

20/8/1998 và Lềnh Tú D1, nữ, sinh ngày 21/11/2003 đã thành niên, có khả năng lao động, bà Tất A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Tất A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là

300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0020369 ngày 20/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Tất A đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Tất A và ông Lềnh Hấm K vắng mặt được

quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại

cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ