- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Mai Tấn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 548/2026/DS-ST Ngày 04 – 9 – 2026 V/v tranh chấp HĐ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Xuân Minh
2. Bà Trương Thanh Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 825/2026/TLST-DS, ngày 15 tháng 7 năm 2026 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 797/2026/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V; địa chỉ: số 89, Láng H, phường Đống Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Lê Minh K và anh Bùi Văn S; Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ: số 149K, đường Nguyễn Tất T, phường Lý Văn L, tỉnh Cà Mau; Là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V theo văn bản ủy quyền số: 00457/05/2026/KK-VPB ngày 24/6/2026 (xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Mai Tấn T, sinh ngày 10/02/1991; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 14/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: Ấp Cái Đôi Nhỏ B, xã Nguyễn Việt K, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau. Nay là ấp Sào L, xã Cái Đôi V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V (gọi tắt là Ngân hàng) cùng anh Mai Tấn T thỏa thuận ký kết các hợp đồng tín dụng, cụ thể:
Ngày 06/10/2022, ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số LN2210067001885 với hạn mức cho vay là 16.000.000 đồng. Tuy nhiên, hạn mức này có thể thay đổi theo phê duyệt của Ngân hàng và được bên vay xác nhận đồng ý theo đề nghị của bên vay. Theo đó, Ngân hàng giải ngân lần đầu với số tiền 16.000.000 đồng vào ngày 07/10/2022 đến ngày 28/8/2024, tiếp tục giải ngân số tiền 6.400.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng tính từ ngày giải ngân, lãi suất thỏa thuận được ghi nhận tại hợp đồng và định kỳ bên vay phải thanh toán nợ gốc và lãi 01 tháng/lần. Khi đó, hệ thống sẽ tự động tính lãi gốc trong kỳ thanh toán và gửi thông báo số tiền gốc, lãi cho khách hàng biết số tiền cụ thể. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T chỉ thanh toán được nợ gốc là 772.713 đồng và kể từ ngày 11/02/2026 cho đến nay, anh T chưa thanh toán được khoản nợ vốn, nợ lãi cho Ngân hàng. Hiện khoản vay này, tính đến ngày 04/9/2026, anh T còn nợ số tiền là 28.767.847 đồng trong đó, nợ vốn gốc là 21.627.287 đồng và nợ lãi là 7.140.560 đồng.
Ngày 21/02/2024, ký tiếp giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử số LN2402201835763 với số tiền cho vay là 184.000.000 đồng. Cùng ngày, Ngân hàng giải ngân cho anh T vay số tiền trên theo hồ sơ giải ngân số LD2405200593, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng tính từ ngày giải ngân, lãi suất thỏa thuận được ghi nhận tại hợp đồng và định kỳ bên vay phải thanh toán nợ gốc và lãi 01 tháng/lần. Khi đó, hệ thống sẽ tự động tính lãi gốc trong kỳ thanh toán và gửi thông báo số tiền gốc, lãi cho khách hàng biết số tiền cụ thể. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T chỉ thanh toán được nợ gốc là 67.474.069 đồng và kể từ ngày 02/2/2026 cho đến nay, anh T chưa thanh toán được khoản nợ vốn, nợ lãi cho Ngân hàng. Hiện khoản vay này, tính đến ngày 04/9/2026, anh T còn nợ tổng số tiền là 137.117.500 đồng trong đó, nợ vốn gốc là 116.525.931 đồng và nợ lãi là 20.591.569 đồng.
Tổng số tiền vốn và lãi, anh T còn nợ của các hợp đồng nêu trên là 165.885.347 đồng trong đó, nợ vốn 138.153.218 đồng, nợ lãi tính đến ngày 04/9/2026 là 27.732.129 đồng (lãi trong hạn là 18.488.086 đồng, lãi quá hạn là 9.244.043 đồng) nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh T thanh toán một lần hết số tiền nợ trên và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ. Đồng thời, do bận công việc nên người đại diện hợp pháp của Ngân hàng xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án.
Đối với anh Mai Tấn T (bị đơn), Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về thủ tục tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, riêng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã có lời khai và xin vắng mặt nên căn cứ các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc xin vắng mặt của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và quyết định vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, có quy định lãi suất cụ thể là: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số LN2210067001885 ngày 06/10/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử số LN2402201835763 ngày 21/02/2024. Quá trình thực hiện các hợp đồng nêu trên, bị đơn không trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận là đã vi phạm điều khoản cam kết nên được xem xét làm cơ sở để thanh lý hợp đồng.
Mặc dù, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, thể hiện: Việc bị đơn có vay và hiện còn nợ nguyên đơn các khoản vốn cùng lãi vay của hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 04/9/2026 với tổng số tiền nợ 165.885.347 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi bảy đồng) trong đó, số tiền nợ vốn vay là 138.153.218 đồng, số tiền nợ lãi vay là 27.732.129 đồng là sự thật nên không phải chứng minh. Do đó, cần buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ trên cho nguyên đơn cùng lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ là phù hợp.
Về thời gian và phương thức thanh toán nợ, tuy nguyên đơn có yêu cầu bị đơn thanh toán một lần hết số tiền nợ vay nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại toàn bộ cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 100 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào các Điều 147, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.
Buộc anh Mai Tấn T thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V các khoản tính đến ngày 04/9/2026 với tổng số tiền là 165.885.347 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi bảy đồng) trong đó, số tiền nợ vốn vay là 138.153.218 đồng, số tiền nợ lãi vay là 27.732.129 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 04/9/2026, anh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ vốn chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà anh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Anh Mai Tấn T phải nộp số tiền là 8.294.000 đồng (tám triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng - chưa nộp).
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V không phải nộp. Ngày 14/7/2026, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 4.020.000 đồng (bốn triệu không trăm hai chục nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000675 được trả lại toàn bộ cho Ngân hàng.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 8, 9 và 11 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND cùng cấp; - Phòng THA dân sự KV3-Cà Mau; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lâm Hoài Ân |