- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính"
- Tòa quyết gì? Ông Hoàng Thanh C phải nộp 300.
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 545/2023/HC-PT Ngày 25-7-2023 V/v: khiếu kiện quyết định hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;
Các Thẩm phán: bà Phan Thị Vân Hương;
ông Nguyễn Mạnh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại các điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hành chính thụ lý số 186/2023/TLPT-HC ngày 24 tháng 02 năm 2023 về khiếu kiện quyết định hành chính, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án số 99/2022/HC-ST ngày 05-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7717/2023/QĐ-PT ngày 07-7-2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: ông Hoàng Thanh C sinh năm 1972; trú tại: thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình.
Người đại diện hợp pháp: ông Lại Văn H - Phó Chủ tịch (theo ủy quyền); đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Văn Đ - Phó Chủ tịch (theo ủy quyền); đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình: ông Đào Quang N - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người khởi kiện trình bày: năm 1993, ông Hoàng Thanh C được cấp đất nông nghiệp tại thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
Ngày 01/12/2016, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Thái Bình có Quyết định số 13577/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Phúc, gia đình ông C bị thu hồi diện tích là 642 m2 (STT 55). Gia đình ông C được bồi thường 136.675.200 đồng. Phần diện tích đất bị thu hồi thuộc thửa 950, tờ bản đồ số 01 thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, là tiêu chuẩn đất nông nghiệp của ông C.
Theo Thông báo số 221/TB-PTQĐ ngày 02/12/2016 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình, ông được biết UBND thành phố Thái Bình sử dụng đất thu hồi của ông vào mục đích phát triển kinh tế xã hội, gia đình ông đã bàn giao ruộng canh tác cho UBND thành phố Thái Bình. Sau đó, ông nhận thấy UBND thành phố Thái Bình lại giao cho Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long (sau đây gọi là công ty Thăng Long) thực hiện dự án với tên gọi khu đô thị mới, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, trong khi tại danh mục các công trình, dự án sử dụng đất năm 2013 tỉnh Thái Bình (ban hành kèm theo công văn số 2824/BTNMT-TLQLĐĐ ngày 27/4/2013 của Bộ TN&MT về việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh Thái Bình) dự án tại xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình là dự án “Khu đô thị, thương mại dịch vụ”. Quá trình thực hiện, Công ty Thăng Long thực hiện phân lô, bán nền khu đất dự án. Căn cứ theo quy định tại Điều 62 Luật đất đai năm 2013, dự án mà Công ty Thăng Long thực hiện không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất mà thuộc trường hợp doanh nghiệp phải tự thỏa thuận, thương lượng với người dân trên cơ sở giao dịch dân sự quy định tại Điều 73 Luật đất đai 2013. Vì vậy, UBND thành phố Thái Bình không Có thẩm quyền thu hồi đất của gia đình ông, đồng nghĩa với các quyết định UBND thành phố ban hành là trái pháp luật.
Quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư do UBND thành phố thực hiện tồn tại nhiều sai phạm, cụ thể: tiền bồi thường được chi trả cho các hộ dân được áp dụng nhiều mức giá khác nhau, có hộ được bồi thường 69.000.000 đồng/sào, có hộ 130.000.000 đồng/sào; 150.000.000đ/sào; 175.000.000đ/sào.
Ngày 13/12/2019 và 28/12/2020, ông cùng các hộ dân có đất bị thu hồi đã có đơn khiếu nại quyết định bồi thường hỗ trợ GPMB thực hiện dự án “Khu đô thị mới xã Vũ Phúc” của UBND thành phố Thái Bình, cụ thể: Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình (sau đây gọi là Quyết định 13577/QĐ-UBND); Quyết định 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019 của UBND thành phố Thái Bình v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án; Quyết định 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 của UBND thành phố Thái Bình v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án; Quyết định 2282/QĐ-UBND ngày 13/7/2019 của UBND thành phố Thái Bình v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án: xây dựng khu đô thị mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
Ngày 17/9/2020, Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình ra Quyết định số 3272/QĐ-UBND v/v giải quyết khiếu nại lần đầu bác toàn bộ nội dung khiếu nại, giữ nguyên các Quyết định 13577/QĐ-UBND; Quyết định 1185/QĐ-UBND và Quyết định 2282/QĐ-UBND.
Không đồng ý với quyết định trên, ngày 21/10/2020 các hộ dân đã khiếu nại đối với Quyết định 3272/QĐ-UBND v/v giải quyết khiếu nại lần đầu.
Ngày 05/02/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 520/QĐ-UBND v/v giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình v/v giải quyết khiếu nại lần đầu, giữ nguyên quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình.
Việc giữ nguyên các quyết định giải quyết khiếu nại gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của gia đình bà, những người trực tiếp có đất bị thu hồi. Dự án thực hiện là dự án tư nhân, có mục đích thương mại, kinh tế nhưng UBND thành phố Thái Bình thu hồi đất và bồi thường đất theo giá nhà nước, không có bất kỳ sự thỏa thuận nào giữa người dân và chủ dự án là không đúng quy định của pháp luật đất đai và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Ông C không có ý kiến gì về việc thu hồi đất nhưng việc đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng không công bằng nên ông phải đòi hỏi quyền lợi, yêu cầu UBND thành phố Thái Bình phải nâng mức bồi thường cho gia đình ông 175.000.000 đồng/sào.
Vì vậy, ông Hoàng Thanh C yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
1. Hủy Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
2. Hủy Quyết định 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
3. Hủy Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình v/v phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
Người đại diện của UBND thành phố Thái Bình và Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình trình bày:
1. Về căn cứ, thẩm quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng:
Dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 tại Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012; đây là dự án đối ứng tạo nguồn thu từ giá trị quyền sử dụng đất để thanh toán cho công trình đường Kỳ Đồng kéo dài thành phố Thái Bình, thực hiện theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long; được Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang loại đất khác để thực hiện dự án tại Văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 23/9/2013; UBND tỉnh Thái Bình có văn bản số 2124/UBND-MCLT ngày 30/6/2015 chấp thuận chủ đầu tư dự án; HĐND tỉnh Thái Bình có Nghị quyết số 30/2015/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 phê duyệt danh mục dự án cần thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013.
Dự án có trong kế hoạch sử dụng đất của thành phố Thái Bình các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt tại các quyết định: số 3292/QĐ-UBND ngày 31/12/2014, số 257/QĐ-UBND ngày 26/01/2016, số 247/QĐ-UBND ngày 20/01/2017, số 386/QĐ-UBND ngày 05/02/2018, số 588/QĐ-UBND ngày 25/02/2019.
Dự án có tổng diện tích đất quy hoạch là 31 ha, trong đó: đất công trình văn hóa 0,19 ha; đất công trình giáo dục 0,43 ha; đất công trình thể thao 0,38 ha; đất dịch vụ thương mại 0,98 ha; đất nhà ở liền kề 11,41 ha; đất xây dựng chung cư nhà ở xã hội 1,1 ha; đất nhà ở hiện trạng 0,47 ha; đất cây xanh, mặt nước 2,9 ha; đất đấu nối hạ tầng kỹ thuật 0,36 ha; đất giao thông 12,73 ha. Như vậy, dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc có mục đích để phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công Cộng nên thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 62 Luật đất đai năm 2013. Dự án không thuộc trường hợp sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh quy định tại Điều 73 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ quy định tại Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật đất đai năm 2013; Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 của UBND tỉnh Thái Bình về việc ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án BT, HT, GPMB, vì vậy UBND thành phố Thái Bình đã ban hành Quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân và Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016phê duyệt phương án BT, HT, GPMB (trong đó có hộ gia đình ông Hoàng Thanh C) để thực hiện dự án là đúng căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật.
2. Về trình tự thủ tục và chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:
Ngày 05/8/2016, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 105/KH-UBND về việc thu hồi đất và đã ban hành các thông báo thu hồi đất và gửi đến người có đất bị thu hồi thuộc dự án theo quy định.
Ngày 31/8/2016 và ngày 11/9/2016 Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với UBND xã Vũ Phúc, cơ sở thôn, các đơn vị có liên quan và đại diện các hộ dân có đất bị thu hồi họp để triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án, trong đó: đã triển khai kế hoạch, thông báo thu hồi đất, các quy định của pháp luật về giải phóng mặt bằng.
Sau khi thống kê diện tích, chủ sử dụng đất, tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi, nhân khẩu nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án, kiểm đếm tài sản, cây trồng trên đất, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND xã Vũ Phúc, cơ sở các thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND xã Vũ Phúc, cơ sở các thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ theo quy định.
Xét đề nghị của các phòng, ban, đơn vị liên quan; UBND thành phố Thái Bình đã ban hành các quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án và ban hành các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, trong đó có Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 phê duyệt phương án BT, HT, GPMB liên quan đến hộ ông Hoàng Thanh C.
- Về lập phương án BT, HT, GPMB: sau khi ban hành Kế hoạch, Thông báo thu hồi đất, UBND thành phố Thái Bình đã chỉ đạo Trung tâm phát triển quỹ đất, các phòng, ban, đơn vị liên quan thành phố và UBND xã Vũ Phúc lập phương án BT, HT, GPMB đối với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi thuộc dự án đúng theo chế độ chính sách, đơn giá BT, HT và thống nhất chung cho tất cả các hộ dân trong cùng dự án theo quy định tại Quyết định số 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, Quyết định số 215/QĐ-UBND ngày 21/01/2016, Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 và Công văn số 1346/UBND-NNTNMT ngày 07/5/2015 của UBND tỉnh Thái Bình; xét đề nghị của Trung tâm Phát triển quỹ đất, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Bình, UBND thành phố đã phê duyệt phương án BT, HT, GPMB cho các hộ dân tại Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 (trong đó có hộ Ông C) là đảm bảo đúng quy định của Luật đất đai; Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, Quyết định 215/QĐ-UBND ngày 21/01/2016, Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh Thái Bình, đảm bảo thống nhất một chế độ chính sách đối với tất cả các hộ dân trong cùng dự án. Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình đã phối hợp với UBND xã Vũ Phúc thông báo và tổ chức chi trả tiền BT, HT cho các hộ dân theo đúng phương án được phê duyệt. Như vậy, việc Ông C cho rằng phương án BT, HT, GPMB của dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc không công bằng là không có cơ sở.
- Về sự khác biệt tên dự án: Tại số thứ tự 154 Danh mục các công trình, dự án sử dụng đất năm 2013 tỉnh Thái Bình ban hành kèm theo Công văn số 2824/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 24/7/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc chuyển mục đích đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Thái Bình (được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chấp thuận tại Văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 29/3/2013) tên dự án, công trình là dự án Khu đô thị, thương mại, dịch vụ xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, tổng diện tích 31 ha, trong đó đất trồng lúa 25,7 ha.
Tại Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, dự án có tổng diện tích đất quy hoạch là 31 ha.
Về thực chất khu đô thị, thương mại, dịch vụ xã Vũ Phúc hay khu dân cư Vũ Phúc đều là một dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc; vì dự án có cùng một vị trí, địa điểm, cùng một diện tích; tại mục căn cứ xem xét, thẩm định dự án trình Thủ tướng Chính phủ đồng ý chấp thuận là Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
3. Về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình:
Không nhất trí với đơn giá bồi thường, hỗ trợ một số hộ dân có đất thu hồi tại dự án có đơn khiếu nại gửi UBND thành phố; theo đơn khiếu nại đề ngày 28/5/2020 và nội dung làm việc ngày 11/6/2020 của Thanh tra thành phố Thái Bình, bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình khiếu nại Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016; số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019; số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019; số 2282/QĐ-UBND ngày 13/7/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
Xem xét giải quyết khiếu nại của các hộ dân, ngày 03/7/2020, UBND thành phố có Thông báo số 590/TB-UBND thụ lý giải quyết khiếu nại; ngày 20/7/2020, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 2411/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại lần đầu của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình; ngày 09/7/2020, Chủ tịch UBND thành phố có Quyết định số 2323/QĐ-UBND ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình giải quyết khiếu nại.
Xét đề nghị của Đoàn xác minh tại báo cáo số 03/BC-ĐXM về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình. Ngày 17/9/2020, Phó Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình đã ký Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình; trong đó kết luận: giữ nguyên nội dung Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016; số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019; số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019; số 2282/QĐ-UBND ngày 13/7/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
Việc giải quyết khiếu nại vụ việc nêu trên của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình là đảm bảo quy định của Luật khiếu nại năm 2011; Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ.
Vì các căn cứ trên, UBND thành phố Thái Bình khẳng định toàn bộ quá trình thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và giải quyết khiếu nại liên quan đến thu hồi đất tại dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có căn cứ, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án số 99/2022/HC-ST ngày 05-9-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; điểm a khoản 3 Điều 116; Điều 158; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 Luật tố tụng hành chính;
Căn cứ các điều 62, 66, 69, 75, 77, 83, 84, 88, 89, 90, 93, 204 Luật đất đai năm 2013; Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Căn cứ các Điều 18, 21, 27, 29, 30, 31, 36, 38, 39, 40 Luật khiếu nại năm 2011; Điều 22, 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thanh C về việc:
1. Yêu cầu hủy Quyết định 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
2. Yêu cầu hủy Quyết định 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
3. Yêu cầu hủy Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07-10-2022, ông Hoàng Thanh C kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Hoàng Thanh C đề nghị xét xử vắng mặt và chấp nhận kháng cáo, chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Người bị kiện đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án, không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, với lý do việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đối với Ông C là đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa, có ý kiến căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật; đề nghị giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện: ông Hoàng Thanh C khởi kiện quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, GPMB của UBND thành phố Thái Bình và khiếu kiện các quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.
Ngày 05/02/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 520/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) đối với khiếu nại của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ dân thôn Phúc Khánh, thôn Phúc Thượng, xã Vũ Phúc (trong đó có ông Hoàng Thanh C), nội dung công nhận và giữ nguyên nội dung giải quyết khiếu nại tại Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình. Ngày 01/7/2021, ông Hoàng Thanh C nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính, là bảo đảm thời hiệu khởi kiện.
Tại phiên tòa, người khởi kiện và người bị kiện đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định hành chính
Dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 tại Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012, được Thủ tưởng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện các dự án, công trình trên địa bàn tỉnh Thái Bình bằng văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 23/9/2013; Văn bản số 2124/UBND-MCLT ngày 30/6/2015 của UBND tỉnh Thái Bình về việc chấp thuận đầu tư dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc; Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình có Nghị quyết số 30/2015/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 về việc phê duyệt danh mục dự án cần thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc là dự án được HĐND tỉnh phê duyệt do đó thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013.
Khu vực thu hồi đất để thực hiện dự án có cả đất công ích của UBND xã Vũ Phúc và đất của hộ gia đình, các nhân, UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 về việc ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; UBND thành phố Thái Bình đã ban hành Quyết định thu hồi đất và Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án là đúng thẩm quyền, có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật đất đai.
Trình tự thu hồi đất: ngày 05/8/2016, UBND thành phố đã ban hành kế hoạch số 105/KH-UBND về việc thu hồi đất. Sau đó, UBND thành phố Thái Bình, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình ban hành thông báo về việc thu hồi đất, đã phối hợp với UBND xã Vũ Phúc để gửi đến người có đất bị thu hồi và niêm yết công khai dự thảo phương án BT, HT, GPMB, tiếp nhận ý kiến và giải đáp thắc mắc của các hộ gia đình, cá nhân về dự thảo phương án BT, HT, GPMB; tổng hợp, hoàn thiện phương án trình các phòng, ban đơn vị liên quan của UBND Thành phố thẩm định.
Ngày 01/12/2016, UBND thành phố Thái Bình đã ban hành Quyết định số 13522/QĐ-UBND v/v thu hồi đất để thực hiện dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thu hồi của hộ gia đình ông Hoàng Thanh C. Ông C không khiếu nại gì đối với quyết định thu hồi đất.
Sau đó, UBND thành phố đã ban hành các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB để thực hiện dự án theo quy định, trong đó có Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016.
Đối chiếu các khoản bồi thường, hỗ trợ mà gia đình ông Hoàng Thanh C được UBND thành phố Thái Bình phê duyệt theo phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng kèm theo Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 (số thứ tự 55), diện tích đất thu hồi theo hiện trạng 724,8 m2, diện tích được bồi thường là 642,3 m2, tỷ lệ % thu hồi là 100%, thấy:
- Bồi thường về đất: 26.964.000 đồng (đơn giá đất trồng cây hàng năm 42.000đ/m2, hệ số 1,0) là phù hợp với quy định của Điều 77 Luật đất đai; Quy định về bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình ban hành kèm theo Quyết định 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh Thái Bình; Quyết định 215/QĐ-UBND ngày 21/01/2016 của UBND tỉnh Thái Bình về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2016.
- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm 40.446.000 đồng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 83; Điều 84; Điều 15 Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh Thái Bình ban hành quy định một số chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình; khoản 1 Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
- Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất: 12.420.000 đồng là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 83 Luật đất đai; khoản 7 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 14 Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh Thái Bình.
- Hỗ trợ khác theo Công văn 1346/UBND-NNTNMT ngày 07/5/2015 của UBND tỉnh Thái Bình với tổng số tiền 56.928.000 đồng (mức hỗ trợ 84.000đ/m2) là phù hợp với quy định tại Điều 90 Luật đất đai.
- Bồi thường hỗ trợ tài sản, xây dựng, cây cối hoa màu 2.899.200 đồng là phù hợp với công văn 3619/UBND-NNTNMT ngày 29/6/2016 của UBND tỉnh Thái Bình về việc hỗ trợ khác để giải phóng mặt bằng.
Tổng cộng là 136.657.200 đồng.
Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng được UBND thành phố phê duyệt Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố đã thực hiện việc niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án, công khai mức bồi thường, hỗ trợ; đồng thời thông báo quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tới các hộ gia đình, cá nhân.
Thực hiện các quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng của UBND thành phố, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố đã phối hợp với UBND xã Vũ Phúc tổ chức thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình, cá nhân theo đúng phương án đã được UBND thành phố phê duyệt. Ông Hoàng Thanh C đã ký nhận 136.657.200 đồng. Ngoài ra, ông Hoàng Thanh C còn được bồi thường theo Quyết định 5484/QĐ-UBND ngày 19/12/2018 số tiền là 4.140.000 đồng đã nhận tiền và không Có ý kiến gì.
Như vậy, UBND thành phố đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại các điểm b,c, d khoản 3 Điều 69 Luật đất đai năm 2013 và đảm bảo chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với hộ Ông C đúng quy định tại các điều 74, 75, 77, 83, 84 Luật đất đai năm 2013, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và các quyết định của UBND tỉnh Thái Bình.
Đối với việc ông C cho rằng trường hợp này ông được quyền thỏa thuận giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án là không có căn cứ, vì: dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc là dự án đối ứng tạo nguồn thu từ giá trị quyền sử dụng đất để thanh toán cho công trình đường Kỳ Đồng kéo dài thành phố Thái Bình thực hiện theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long (Quyết định số 2124/UBND-MCLT ngày 30/6/2015 của UBND tỉnh Thái Bình chấp thuận đầu tư dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc). Đây không thuộc trường hợp chủ đầu tư dự án nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thỏa thuận về giá chuyển nhượng với người có đất thu hồi theo quy định tại Điều 73 Luật đất đai năm 2013.
Người khởi kiện còn cho rằng việc bồi thường về đất giữa các hộ gia đình có đất thu hồi trong cùng dự án là khác nhau, không đảm bảo công bằng, nhưng người khởi kiện không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh. Các tài liệu người bị kiện giao nộp thể hiện tất cả các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức mà Nhà nước có quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án khu dân cư mới xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình đều được áp dụng chung cơ chế, chính sách BT, HT; không Có tài liệu nào thể hiện việc UNND thành phố Thái Bình áp giá bồi thường cao hơn cho một số hộ gia đình khác như người khởi kiện trình bày. Việc BT, HT đã đảm bảo nguyên tắc công bằng theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật đất đai năm 2013.
Xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của Quyết định 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình:
- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành: sau khi nhận được đơn khiếu nại của bà Hoàng Thị T cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ dân thôn Phúc Khánh, Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình (trong đó có ông Hoàng Thanh C), Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình đã thụ lý khiếu nại, quyết định thành lập đoàn xác minh nội dung khiếu nại, thu thập các tài liệu liên quan và tổ chức đối thoại. Ngày 17/9/2020, Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình ban hành Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu). Như vậy, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình là có căn cứ, đúng quy định tại các điều 18, 27, 29, 30, 31 Luật khiếu nại năm 2011; Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp huyện.
- Về nội dung: Quyết định số 3272/QĐ-UBND không chấp nhận yêu cầu của người khiếu nại (trong đó có ông C) là có căn cứ như đã phân tích ở trên.
Đối với Quyết định 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình:
- Về trình tự, thủ tục ban hành: Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đã thụ lý khiếu nại lần hai của ông Hoàng Thanh C và một số hộ dân thôn Phúc Khánh, Phúc Thượng, xã Vũ Phúc, đã giao Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình xác minh khiếu nại và tiến hành đối thoại với người khiếu nại. Ngày 05/02/2021 Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 520/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai). Như vậy, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng quy định tại các điều 21, 36, 38, 39, 40 Luật khiếu nại năm 2011; Điều 22 Luật tổ chức chính quyền địa phương về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- Về nội dung: Quyết định số 520/QĐ-UBND đã công nhận và giữ nguyên nội dung giải quyết khiếu nại lần đấu tại quyết định số 3272/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình là hợp pháp và có căn cứ.
Với các lí do trên, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Thanh C.
. Về án phí: Ông C phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của ông Hoàng Thanh C và giữ nguyên quyết định của Bản án số 99/2022/HC-ST ngày 05-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
2. Ông Hoàng Thanh C phải nộp 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Bà Đặng Thị Bê đã nộp thay Ông C số tiền trên vào ngày 18-10-2022, tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cục THA dân sự tỉnh Thái Bình; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: HSVA, PHCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Nam |