- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Phúc H - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| !TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH Bản án số: 545/2018/HS-PT Ngày: 28/11/2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các"Thẩm"phán: Ông Trương Công Huấn
Bà Phạm Uyên Thy
Thư"ký"phiên"toà:"Bà Hà Quỳnh Nga.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên" tòa: Ông Trần Thanh khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 455/2018/HSPT ngày 09/10/2018 đối với các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’. Do có kháng cáo của các bị cáo H và H’ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HS-ST ngày 29/8/2018 của Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:"
1/ Lâm!Phúc!H; giới tính: Nam; sinh năm: 1978 tại tỉnh B; thường trú: Tổ 2, khóm C, phường D, thị xã E, tỉnh B; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Hoà Hảo; con ông Lâm Thanh V và bà Đặng Kim T; hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 02 con, trong đó con lớn nhất sinh năm 2006 và con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 07/4/2018 đến ngày 16/4/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
2/ Dương!Minh!H’; giới tính: Nam; sinh năm: 1985 tại tỉnh B; thường trú: Tổ 5, khóm C’, phường F, thị xã E, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Thanh C và bà Nguyễn Lệ T; hoàn cảnh gia đình: Có 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/4/2018 đến ngày 16/4/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Nhân thân: Ngày 24/8/2006 bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh B xử phạt về tội “Đánh bạc” với mức hình phạt là 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án. (Có mặt) ! !
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 07/4/2018, tại ngã ba đường Đ – đường số 5a thuộc Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm trật tự quản lý về Kinh tế - Tham nhũng Công an Quận A phát hiện Dương Minh H’ đang chuyển 01 bao nylon bên trong có chứa 1.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet từ xe ô tô khách biển số 57B-006.XX do Lâm Phúc H điều khiển xuống để giao cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch). Khi phát hiện thấy Công an, người phụ nữ này đã điều khiển xe máy bỏ chạy. Tiến hành kiểm tra xe ô tô khách biển số 57B-006.XX, Công an còn thu giữ phía sau cùng giường nằm của xe ô tô 500 bao thuốc lá điếu hiệu Hero cùng một số hàng hoá gồm: 90 đôi dép không hiệu (loại có quai, có khoá), 670 đôi dép không hiệu (loại xỏ ngón) và 12 chai rượu (bên ngoài có chữ Captain Morgan vol 750ml) nên đã giao H, H’ cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận A giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, Lâm Phúc H và Dương Minh H’ khai nhận: H là tài xế xe ô tô khách biển số 57B-006.XX thuộc Công ty TNHH Một thành viên Vận tải HT (gọi tắt là Công ty HT) chạy tuyến An Giang – Thành phố Hồ Chí Minh. Để có tiền tiêu xài, H và H’ (phụ xe do H tự thuê) nhận vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho người phụ nữ tên H” (không rõ lai lịch) từ An Giang lên Thành phố Hồ Chí Minh với giá 300.000 đồng/chuyến. Khoảng 19 giờ ngày 06/4/2018, một người đàn ông (không rõ lai lịch) thuê H chở 1.000 bao thuốc lá điều hiệu Jet và 500 bao thuốc lá điếu hiệu Hero lên Thành phố Hồ Chí Minh giao cho người phụ nữ tên H” qua số điện thoại 0939.359.abc, H đồng ý và điện thoại kêu H’ nhận 1.500 bao thuốc lá trên. Sau khi nhận hàng, H’ đem giấu phía sau cùng dưới giường nằm của xe ô tô khách biển số 57B-006.XX. Đến 00 giờ ngày 07/4/2018, H điều khiển xe khách này cùng H’ chạy từ An Giang lên Thành phố Hồ Chí Minh, khi đến ngã ba đường Đ – Đường số 5a, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, H’ lấy 1.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet giao cho người phụ nữ tên H” thì bị phát hiện, bắt giữ như trên. Riêng 90 đôi dép không hiệu (loại có quai, có khoá), 670 đôi dép không hiệu (loại xỏ ngón) của Hộ kinh doanh HĐ gửi nhờ Công ty HT vận chuyển, còn 12 chai rượu (bên ngoài có chứ Captain Morgan vol 750ml), H và H’ không biết là ai gửi. Số hàng hoá này không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính xong.
Ngày 11/4/2018, Cơ quan điều tra Công an Quận A có Công văn số 862/CV-CAQ6 gửi Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam đề nghị giám định 1.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet và 500 bao thuốc lá điếu hiệu Hero thu giữ của H và H’. Ngày 13/4/2018, Hiệp Hội thuốc lá có văn bản số 04/HHTL-GĐTL kết luận: Tất cả số thuốc lá điếu hiệu Jet và Hero hiện Công an Quận A đang tạm giữ là thuốc lá điếu nhập lậu, là hàng cấm theo Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ.
Tại Bản Cáo trạng số 77/CT-VKS-Q6 ngày 25/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ cùng về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Đối với Công ty TNHH MTV Vận tải HT không liên quan đến hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu của Lâm Phúc H và Dương Minh H’ nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với người phụ nữ tên H” và người đàn ông thuê Lâm Phúc H, Dương Minh H’ vận chuyển thuốc lá, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HS-ST ngày 29/8/2018 của Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ đã dùng xe ô tô khách vận chuyển trái phép 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu từ An Giang đến Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, tuyên bố các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Phúc H 10 tháng tù và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Minh H’ 07 tháng tù. Ngoài ra, án sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ mỗi người phải nộp phạt số tiền là 10.000.000 đồng.
Đồng thời, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/9/2018, các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ cùng kháng cáo xin được hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và nộp bổ sung 02 Biên lai thu số 0045751 và 0045752 cùng ngày 26/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự thể hiện các bị cáo đã thi hành xong hình phạt tiền của bản án sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã tuyên, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 04/HHTL-GĐTL ngày 13/4/2018 của Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác đã thu thập có được trong hồ sơ vụ án. Từ đó, xác định được: Vào khoảng 05 giờ ngày 07/4/2018, tại ngã ba đường Đ – Đường số 5a thuộc Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Phúc H và Dương Minh H’ bị bắt quả tang đang vận chuyển 1.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và Hero từ An Giang đến Thành phố Hồ Chí Minh để giao cho một người phụ nữ tên H” (không rõ lai lịch) nhưng chưa kịp giao. Theo Kết luận giám định số 04/HHTL-GĐTL ngày 13/4/2018 của Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, số thuốc lá này là thuốc lá điếu nhập lậu, là hàng cấm theo Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ. Hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao của các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HS-ST ngày 29/8/2018 của Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử các bị cáo H và H’ về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc trường hợp được xem xét tại cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho mình được hưởng án treo với các lý do: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là lao động chính trong gia đình. Ngoài ra, các bị cáo đã tự nguyện thi hành một phần bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung, là nộp phạt số tiền là 10.000.000 đồng - Theo các Biên lai thu số 0045751 và 004572 cùng ngày 26/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm cho các bị cáo.
Xét bị cáo Lâm Phúc H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Dương Minh H’ tuy đã phạm tội nhưng đã được xóa án tích, thời gian xóa án tích đến ngày phạm tội mới là trên 10 năm, trong thời gian ấy không phạm tội gì, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đều có nơi cư trú rõ ràng, là lao động tự do thu nhập không ổn định, số lượng hàng hóa vận chuyển lậu chỉ vừa cán mức khởi điểm của cấu thành tội phạm, đều tự nguyện thi hành xong một phần bản án sơ thẩm là hình phạt tiền – theo các biên lai thu số 0045751 và 0045752 ngày 26/11/2018; đồng thời, các bị cáo phạm tội chỉ mang tính đồng phạm giản đơn do tính chất cùng làm một công việc, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng nào. Và, qua xem xét, đánh giá nhận thấy, các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt nên đều hội đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Do vậy, không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lâm Phúc H; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Minh H’; Điều 65 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’; sửa Bản án sơ thẩm số 76/2018/HS-ST ngày 29/8/2018 của Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh về biện pháp chấp hành hình phạt đối với cả hai bị cáo.
Phạt bị cáo Lâm Phúc H 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian tử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lâm Phúc H cho Ủy ban nhân dân Phường D, thị xã E, tỉnh B giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Dương Minh H’ 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian tử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Dương Minh H’!cho Ủy ban nhân dân Phường F, thị xã E, tỉnh B giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’!thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Ghi nhận các bị cáo Lâm Phúc H và Dương Minh H’ mỗi người đã nộp phạt xong số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng theo Biên lai thu số 0045751 và 004572 cùng ngày 26/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Đã giải thích về chế định án treo. Nơi"nhận:!!
!
!!!!!!!
!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
- TAND Tối cao;
(1)
!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)
!
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND Quận A;
(1)
!
- P.PC 53 - CATP;
(1)
!
- Bị cáo;
(2)
!
- Chi cục THA Quận A;
(1)
!
- TAND Quận A;
(1)
- Công an Quận A;
(1)
!!!!!Nguyễn!Thị!Hà!
- Sở Tư pháp;
(1)
- UBND nơi bị cáo cư trú;
(1)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (22)
(6)