- Tranh chấp gì? án hình sự — "Han Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 38; Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 544/2025/HS-ST Ngày: 04/9/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đặng Thị Huệ Tú
2/ Ông Lê Giáo
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Võ Thành Đủ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
639/2025/TLST-HS ngày 25/7/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
4625/2025/QĐXXST-HS ngày 12/8/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Han Q, sinh ngày 14/01/1974 tại Trung Quốc; Thường trú: Tổ
Miếu X, thôn Miếu X, trấn Phan T, huyện La S, tỉnh Hà N, Trung Quốc; nghề
nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Han Zhi
Y và bà Hu Xian Y; có vợ là Luo Yan H, có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con
nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam ngày 03/01/2025
(Có mặt).
+ Bị hại:
Ông Võ Trọng T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: 44 Ngõ 121 Đông N, phường Đông N, quận Bắc Từ L, Thành phố
Hà Nội (nay là 44 Ngõ 121 Đông N, phường Đông N, Thành phố Hà Nội) (vắng
mặt).
+ Phiên dịch: Bà Chiếng Ngọc Á, Công ty dịch thuật Phương Tây phiên
dịch tiếng Trung Quốc cho bị cáo Han Q (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 23/12/2024, Han Q (quốc tịch Trung Quốc),
số Hộ chiếu EJ1639351 đi trên chuyến bay VJ1633 của hãng hàng không V đi từ Thành phố Đà Nẵng đến Thành phố Hồ Chí Minh. Khi lên máy bay, Han Q ngồi ghế số 5C nhìn thấy khoang hành lý trên hàng ghế số 4 DEF có để 01 ba lô màu đen nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Han Q đứng dậy mở dây kéo lục soát chiếc ba lô màu đen của ông Vũ Trọng T là hành khách ngồi ghế 4F lấy nhiều tờ tiền mệnh giá 100 USD và nhiều tờ tiền Việt Namam mệnh giá 500.000 đồng giấu vào người. Lúc này, anh Nguyễn Phương N là hành khách ngồi ghế 7D thấy Han Q có biểu hiện nghi vấn nên đã dùng điện thoại quay lại đồng thời báo cho tiếp viên chuyến bay là chị Võ Thị Mỹ H. Chị H thông báo cho các hành khách ngồi ở hàng ghế số 4 kiểm tra hành lý thì ông Vũ Trọng T phát hiện bị mất tiền để trong ba lô màu đen gồm 20 tờ mệnh giá 100 USD, 20 tờ mệnh giá 500.000 VND nên báo Tổ bay. Tổ bay đã tiến hành khống chế Han Q đến phía trước tàu bay để kiểm tra số tiền đang cầm trên tay của Han Q đúng số tiền ông T đã bị mất.
Sau khi phát hiện Han Q có hành vi trộm cắp tài sản, chị Võ Thị Mỹ H đã
yêu cầu toàn bộ hành khách trên chuyến bay kiểm tra hành lý, anh Trần Việt H1 là hành khách ngồi ghế 9E đi vệ sinh thì thấy Chen H (quốc tịch Trung Quốc) ngồi ghế 3C lấy tiền trong người nhét vào lưng ghế ngồi phía trước nên anh H1 báo cho chị H. Chị H cùng anh H1 và anh Nguyễn Phương N kiểm tra và phát hiện tại lưng ngồi ghế phía trước của Chen H có 02 tờ mệnh giá 01 USD, 03 tờ mệnh giá 100USD, 02 tờ mệnh giá 50 EURO, 02 tờ mệnh giá 10 Dirham (AED), 01 tờ mệnh giá 500 Forint (HUF). Lúc này, Ông MAZILU MIHAI R (quốc tịch Romania) ngồi ghế 28C kiểm tra ba lô đặt trong hộc đựng hành lý phía trên ghế ngồi thì phát hiện bị mất số tiền trên.
Tổ bay chuyến bay VJ1633 đã tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc thu
giữ số tiền mà ông Vũ Trọng T và ông MAZILU MIHAI R bị mất trộm và giao Han Q và Chen H cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an điều tra làm rõ. Qua điều tra, Han Q đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông Vũ Trọng T.
Đối với Chen H không thừa nhận trộm cắp tài sản của ông MAZILU
MIHAI R, Chen H không biết số tiền để trước ghế ngồi số 3C là của ai và không liên quan đến số tiền này. Qua điều tra chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vào Khu cách ly thông báo cho Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo quy định và ra Quyết định tách vụ án tiếp tục điều tra làm rõ.
Qua điều tra, Cục quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an ra Quyết định khởi
tố vụ án hình sự, về tội “Trộm cắp tài sản”. Cùng ngày, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền. Đến ngày 30/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Han Q về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Han Q
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị can phù hợp với lời
khai bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác có trong
hồ sơ vụ án.
Theo bảng tỷ giá số 22654 ngày 23/12/2024 của Ngân hàng thương mại cổ
phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) thì 01 USD trị giá 25.200 đồng, 01 EURO
trị giá 25.864,38 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 20 tờ mệnh giá 100USD; 20 tờ mệnh giá 500.000 đồng; 02 tờ mệnh giá
01USD; 03 tờ mệnh giá 100USD; 02 tờ mệnh giá 10 Dirhams; 02 tờ mệnh giá
50 EURO; 01 tờ mệnh giá 500 Forint.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã giao trả
cho ông Vũ Trọng T và ông MAZILU MIHAI R.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Vũ Trọng T đã nhận lại tài sản không yêu cầu
bồi thường.
Số tiền thu giữ của ông MAZILU MIHAI R không liên quan đến hành vi
phạm tội của bị cáo Han Q. Ông MAZILU MIHAI R đã nhận lại toàn bộ số tiền
trên và không có yêu cầu gì.
Tại bản Cáo trạng số 387/CT-VKS-P2 ngày 12/6/2025, Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Han Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ
luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Han Q thừa nhận hành vi phạm tội như nội
dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo
thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu, chứng
cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị
Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Han Q 2 năm 6 tháng đến 3
năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo Han Q không tranh luận.
Bị cáo Han Q nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an
Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay: bị cáo Han Q
đã khai nhận toàn bộ những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 23/12/2024, trên chuyến bay VJ1633 của
hãng hàng không V đi từ Thành phố Đà Nẵng đến Thành phố Hồ Chí Minh, Han Q đã có hành vi lén lút lục soát ba lô (của ông Vũ Trọng T) để trong hộc đựng hành lý lấy số tiền 10.000.000 đồng và 2.000 USD, tổng trị giá tài sản là 60.400.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Han Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc
trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo Han Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến
quyền sở hữu về tài sản của người khác, cần phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự như: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Han Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Vũ Trọng T đã nhận lại tài sản không yêu
cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Han Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2025.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội buộc bị cáo Han Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - VKSND TPHCM; (3) - THADS TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Trại giam; (1) - Bị cáo; (1) - THAHS; (2) - PV06 - CA TPHCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (22) (6) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |