- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Hồng Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng Đ và không chấp nhận
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN |
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 544/2017/HSPT
Ngày: 27/9/2017
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán:
1. Ông Huỳnh Văn Trực
2. Ông Vũ Hoài Nam
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Cán bộ
Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Dương Ngọc Ân - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 493/2017/HSPT ngày
05/9/2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng Điệp do có kháng cáo của bị cáo và
người bị hại Nguyễn Thị Phương Hòa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số
101/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo: Trần Thị Hồng Đ; giới tính: nữ; sinh năm 1956 tại Hà
Nội; thường trú: phố Thuốc C, phường Hàng B, quận Hoàn K, Thành phố Hà Nội;
nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; hoàn cảnh gia đình: có chồng và
một con sinh năm 1984; con ông: Trần Trọng T (chết); con bà: Nguyễn Thị N
(chết); tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại
Nhân thân: tháng 5/1980 bị công an thành phố Hải Phòng phạt cảnh cáo về
“Hành vi trốn đi nước ngoài”; ngày 07/02/1991 bị công an huyện Thường G, thành
phố Hà Nội bắt giữ về hành vi “Trốn thuế”, sau đó bị cáo nộp thuế nên không bị
xử lý trách nhiệm hình sự; ngày 04/12/1991 bị Công an tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội) bắt về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhưng không bị xử lý hình sự (có mặt)
Người bị hại kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Phương H, sinh năm 1958 (có
mặt)
Thường trú: Sư Vạn V, Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh
NHẬN THẤY
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận X và Bản án hình sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh thì hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 15/7/2016, tại nhà bà Trần Thị P (con bà Nguyễn Thị
Phương H) đường Sư Vạn V, Phường A, Quận X, bị cáo Trần Thị Hồng Đ và bà H xảy ra cãi nhau về tiền bạc và tình cảm gia đình. Trong lúc cãi nhau, bị cáo Điệp dùng hai tay cầm một chiếc máy tính xách tay (kích thước 40cm x 30cm, nặng 2,2kg) của bà P đang để trong phòng đập một nhát vào vùng đầu, mặt của bà H gây thương tích. Sau đó bị cáo tiếp tục nắm tóc và nằm đè lên người bà H. Lúc này ông Huỳnh Phú Q (sui gia của bà H) chạy đến can ngăn, sau đó bà H được đưa đi bệnh viện 115 cấp cứu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06%.
Tại Bản án số 101/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân Quận
X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Hồng Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng điểm a, b, i khoản 1 Điều 104; Điều 45; điểm h, p khoản 1 Điều
46 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Trần Thị Hồng Đ 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn xử lý về tang vật, án phí và quyền kháng cáo theo luật
định.
Sau khi xử sơ thẩm, ngày 16/6/2017 bị cáo Trần Thị Hồng Đ kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 30/6/2017 người bị hại Nguyễn Thị Phương H kháng cáo quá hạn đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Hồng Đ.
2
Ngày 01/8/2017 Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định
số 41/2017/QĐ-PT chấp nhận kháng cáo quá hạn của người bị hại Nguyễn Thị
Phương H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận đã thực hiện các hành vi như
nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị
cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị
hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc
thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và người bị hại.
XÉT THẤY
Vào khoảng 17 giờ ngày 15/7/2016, tại nhà bà Trần Thị P đường Sư Vạn
H, Phường A, Quận X, do mâu thuẫn cá nhân, bị cáo Trần Thị Hồng Đ đã dùng
máy tính xách tay đập một nhát vào đầu và mặt của bà Nguyễn Thị Phương H
rồi nắm tóc, nằm đè lên người bà H.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 513/TgT.16 ngày
08/8/2016 của Trung tâm y tế - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận
thương tích đối với bà H như sau:
“Chấn thương phần mềm vùng đầu, mặt đã được điều trị, hiện còn:
- Bầm tụ máu mờ vùng mặt phải do vật tày tác động gây ra.
- 01 sẹo kích thước 4,3 x (0,1-0,3)cm tại trán, có ảnh hưởng thẩm mỹ,
thương tích do vật tày, vật tày có cạnh tác động gây ra.
Thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự
Theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế không
quy định về cố tật.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06%”
Mặc dù tỷ lệ thương tật bị cáo Điệp gây nên cho bà Hoà là 06% nhưng
người bị hại đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo là có căn cứ
theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.
3
Xét kháng cáo của bị cáo và người bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy Toà
án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bị cáo và người bị hại có mối quan hệ gia đình, bị cáo cũng đã lớn tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi vi phạm nào khác, hiện bị cáo là tổ trưởng tổ phụ nữ số 27 thuộc chi hội phụ nữ khu dân cư Y, phường Hàng B, có nơi cư trú ổn định và đang kinh doanh cửa hàng kim khí nhỏ lẻ tại nhà, có đăng ký kinh doanh số 01C8027560 do ủy ban nhân dân quận Hoàn K cấp. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Do đó, Hội đồng chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận
kháng cáo của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo Đ được hưởng án treo.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 2 Điều 249 của Bộ
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng Đ và không chấp nhận
kháng cáo của người bị hại Nguyễn Thị Phương Hoà; sửa nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Hồng Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng điểm a, b, i khoản 1 Điều 104; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều
60 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Trần Thị Hồng Đ 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường Hàng B, quận Hoàn K, Thành phố
Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Người bị hại phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Đã giải thích chế định án treo.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận X; (1) - P.PC53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - THA Quận X; (1) - TAND Quận X; (1) - Công an Quận X; (1) - UBND nơi BC cư trú; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, tòa hình sự, hồ sơ (25) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình 5 |