vanban.org

Bản án 541/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Chí C được ly hôn với bà Thạch Thị T.

Về con chung: Giao trẻ Tô Mỹ P (nữ), sinh ngày 18/7/2009; Tô Mỹ N (nữ), sinh ngày 03/12/2012; Tô Gia T (nam), sinh ngày 03/5/2017 cho ông Tô Chí C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông C không yêu cầu bà Thạch Thị T cấp dưỡng nuôi con. Bà Thạch Thị T đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Chí C được ly hôn với bà Thạch Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 541/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24-9-2019
V/v Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Vân 2. Bà Lâm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên. Trong ngày 24 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Tô Chí C, sinh năm: 1981; địa chỉ: đường HHN, Phường M, Quận XI, Thành phố H; (có đơn xin vắng mặt). 2. Bị đơn: Bà Thạch Thị T, sinh năm: 1985; địa chỉ: đường HHN, Phường M, Quận XI, Thành phố H; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – ông Tô Chí C trình bày:

Ông và bà Thạch Thị T tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 14/KH, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/02/2009.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn chủ yếu do hai dân tộc khác biệt nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt trong gia đình khác nhau. Từ đó vợ chồng ngày càng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Bà T không biết làm gì cứ gây ra nợ nần rồi bỏ đi, khi nào ông C trả hết nợ lại về gây nợ tiếp. Vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, hai bên đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay.

Nay nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn và ông C xác định không còn tình cảm với bà T nên ông C yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 giải quyết cho ly hôn với bà T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Có 03 con chung Tô Mỹ Ph (nữ), sinh ngày 18/7/2009; Tô Mỹ N (nữ), sinh ngày 03/12/2012; Tô Gia T (nam), sinh ngày 03/5/2017. Ông C yêu cầu được trực tiếp nuôi 03 con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng phía bị đơn đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành trình tư tố tụng đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành trình tự tố tụng đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Tô Chí C yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Thạch Thị T, bị đơn hiện cư trú tại Quận 11 nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “tranh chấp về ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11 theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Ông Tô Chí C có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/8/2019. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ ngày 05/9/2019 và 8 giờ ngày 24/9/2019, bà Thạch Thị T đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Việc kết hôn giữa ông Tô Chí C và bà Thạch Thị T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, Quận XI, Thành phố H, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn chủ yếu do hai dân tộc khác biệt nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt trong gia đình khác nhau. Từ đó vợ chồng ngày càng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Bà T không biết làm gì cứ gây ra nợ nần rồi bỏ đi, khi nào ông C trả hết nợ lại về gây nợ tiếp. Vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, hai bên đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, ông C xác định vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không có hạnh phúc và đề nghị Tòa án giải quyết cho hai bên ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân Gia đình: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên cuộc sống giữa ông C và bà T không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bà T đến Tòa án để giải quyết tranh chấp ly hôn nhưng bà T cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi những vấn đề ông C yêu cầu đã được ghi trong thông báo thụ lý vụ án, chứng tỏ bà T không quan tâm cũng không thiết tha đoàn tụ gia đình. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy việc ông C yêu cầu ly hôn với bà T là chính đáng; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với bà T của ông C.

Về con chung: Ông C yêu cầu được trực tiếp nuôi 03 con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Theo Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Hội đồng xét xử xét thấy ông C hiện là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung và trẻ Tô Mỹ P lại có nguyện vọng ở với ông C. Bà T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến về việc chăm sóc con chung; do đó, Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần tiếp tục giao 03 con chung cho ông Tô Chí C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông C không yêu cầu bà Thạch Thị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Ông Tô Chí C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Chí C được ly hôn với bà Thạch Thị T.

Về con chung: Giao trẻ Tô Mỹ P (nữ), sinh ngày 18/7/2009; Tô Mỹ N (nữ), sinh ngày 03/12/2012; Tô Gia T (nam), sinh ngày 03/5/2017 cho ông Tô Chí C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông C không yêu cầu bà Thạch Thị T cấp dưỡng nuôi con.

Bà Thạch Thị T được quyền thăm nom con, không ai được cản trở bà T thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì quyền, lợi ích của con, việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng con chung có thể được thay đổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí:

Ông Tô Chí C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0010126 ngày 13/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ