- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang T và đồng phạm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Quang T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù t nh từ ngày 19/12/2022
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 540/2023/HSST Ngày: 21-11-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Bà Võ Thị Nam
2/Ông Bùi Quang Việt
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại tr s Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh m phiên tòa x t xử sơ thẩm c ng khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 789/2023/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa v án ra x t xử số: 4957/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Phạm Quang T; Sinh ngày 16 tháng 5 năm 2004 tại Thành phố Hồ Ch Minh; Thường trú: A L Phường A Quận A Thành phố Hồ Ch Minh; Tạm trú: F T Phường F Quận A Thành phố Hồ Ch Minh; Nghề nghiệp: Kh ng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng Phạm Văn C và bà Lê Thị Ánh N; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Kh ng; Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 883/QĐ-XPHC ngày 26/9/2022 của Công an Q Thành phố Hồ Ch Minh phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi gây thương t ch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Bị bắt tạm giam ngày 19/12/2022– Có mặt.
2. Lƣơng Chí K (tên gọi khác: Mi Lu); Sinh ngày 26 tháng 11 năm 2003 tại Thành phố Hồ Ch Minh; Thường trú: 107/18 L Phường A Quận A Thành phố Hồ Ch Minh; Nghề nghiệp: Kh ng; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: kh ng rõ và mẹ: Lương Thị Kim L; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Kh ng; Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh số 63/QĐ-XPHC ngày 06/10/2022 của Ủy ban nhân dân Quận A Thành phố Hồ Ch Minh phạt tiền 16.500.000 đồng về các hành vi t tập gây mất trật tự c ng cộng và tàng trữ trái ph p vũ kh có t nh năng tạc d ng tương tự vũ kh th sơ.
Bị bắt tạm giam ngày 19/12/2022– Có mặt.
3. Nguyễn Hoàng P; Sinh ngày 09 tháng 01 năm 1998 tại tỉnh Vĩnh Long; Thường trú: ấp P xã H huyện V tỉnh Vĩnh Long; Tạm trú: 49 M Khu phố I phường B quận B Thành phố Hồ Ch Minh; Nghề nghiệp: Mua bán điện thoại; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng Nguyễn Minh P1 và bà Nguyễn Thị Cẩm H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án tiền sự: Kh ng.
Nhân thân: Tại Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Ch Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị bắt tạm giam ngày 19/12/2022– Có mặt.
Người bào chữa:
Ông Lê Văn B là luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng P – Có mặt.
Bị hại:
Ông Prasad Shankar M; Sinh năm 1962; Quốc tịch: Ấn Độ; Hộ chiếu số: Z3208422.
Chỗ : Phòng 402 Khách sạn B1 số A L phường B Quận A Thành phố Hồ Ch Minh - Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N1; Sinh năm 1965
Trú tại: A L Phường A Quận A Thành phố Hồ Ch Minh - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/11/2022 Phạm Quang T gặp và rủ Lương Chí K đi tìm kiếm chiếm đoạt tài sản của người đi đường đem bán lấy tiền tiêu xài thì K đồng ý. T điều khiển chiếc xe gắn máy hiệu Wave Alpha màu xanh dương biển số 59H1-992.25 ch K lưu th ng trên nhiều tuyến đường thuộc khu vực Quận A Thành phố Hồ Ch Minh. Đến khoảng 21 giờ 05 phút ngày 13/11/2022 khi đến đầu đường H đoạn gần vòng xoay Q thuộc Phường B Quận A, T phát hiện ng P2 Shankar Mahadevappa đang đi bộ băng ngang qua đường H trên tay cầm điện thoại di động hiệu Iphone. T nói cho K biết và điều khiển xe từ ph a sau vượt lên áp sát ph a bên trái để K ngồi ph a sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của ng P2. Ngay sau đó cả hai cùng nhau tẩu thoát về hướng đường L Quận A. Ngày 14/11/2022, ông P2 đến Công an phường B, Quận A trình báo v việc bị cướp giật điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương dung lượng 128GB. Sau khi trình báo ngày 19/11/2022 ông Prasad Shankar M đã xuất cảnh về nước.
Sau khi cướp giật được điện thoại T ch K đến quán cà phê trước nhà số C L Phường E Quận A. Tại đây K đưa điện thoại vừa chiếm đoạt được cho T đi tìm nơi tiêu th . T đến cửa hàng của Nguyễn Hoàng P tại số D M phường B quận B nói với P nguồn gốc chiếc điện thoại là “Hàng vừa mới ăn được”. Theo P khai khi nghe T nói vậy P hiểu đây là tiếng lóng của T dùng để nói về việc chiếc điện thoại do T vừa phạm tội mà có nhưng vì ham lợi P vẫn đồng ý mua với giá 7.000.000 đồng. Ngày h m sau P đem bán lại điện thoại trên cho một người đàn ng kh ng rõ lai lịch với giá 7.500.000 đồng hư ng lợi 500.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại T chia cho K 3.000.000 đồng số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.
Kiểm tra camera an ninh tại khu vực vòng xoay Q thu giữ được được video độ dài 01 phút 17 giây ghi nhận v việc hai thanh niên chạy xe gắn máy ngược chiều từ vòng xoay Q ra đường H ph a sau có một người chạy bộ theo. Qua truy x t ngày 16/12/2022 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q1 đưa Phạm Quang T, Lương Ch K, Nguyễn Hoàng P về tr s làm việc cho T và K xem và cả hai nhận dạng được hình ảnh ghi nhận trong camera là Phạm Quang T và Lương Chí K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 thu giữ được quần áo mà T và K mặc khi thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại của ng P2.
Kết luận định giá tài sản số 381/LK-HĐ ĐGTS ngày 24/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Quận A xác định “Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 128Gb màu xanh có giá trị là 17.250.000 đồng”.
Tại bản cáo trạng số 178/CT-VKS-P2 ngày 27/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố các bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K về tội: “ Cướp giật tài sản ” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K, Nguyễn Hoàng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Ch Minh trong phần tranh luận sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K1 về tội: “Cướp giật tài sản”; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đồng thời đề nghị Hội đồng x t xử:
Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Phạm Quang T từ 04 năm tù đến 05 năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 20/12/2022.
Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Lương Ch K từ 04 năm tù đến 05 năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 20/12/2022.
Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm s i khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Ch Minh buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án.
Về dân sự xử lý vật chứng án ph và các vấn đề khác của v án đề nghị Hội đồng x t xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K kh ng tranh luận mà chỉ xin xem x t giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư Lê Văn B bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng P trình bày: Luật sư đồng ý về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên về mức hình phạt luật sư đề nghị Hội đồng x t xử xem x t các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải mặc dù kh ng có trách nhiệm bồi thường trong v án nhưng đã tự nguyện nộp số tiền 7.500.000 đồng để khắc ph c hậu quả bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu thuộc trường hợp t nghiêm trọng gia đình có hoàn cảnh khó khăn ng nội là người khuyết tật cha mắc bệnh nan y bị cáo là lao động ch nh. Đồng thời việc cơ quan tiến hành tố t ng áp d ng Điều 170 của Bộ luật Tố t ng hình sự để tách hành vi tiêu th tài sản của bị cáo thành 02 v án độc lập là bất lợi cho bị cáo kh ng đảm bảo nguyên tắc kh ng ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. Do đó luật sư đề nghị Hội đồng x t xử cân nhắc và quyết định mức hình phạt nhẹ nhất đối với bị cáo P.
Bị cáo Nguyễn Hoàng P đồng ý với bài bào chữa của luật sư và kh ng tham gia tranh luận.
Người có quyền lợi nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Bà mua chiếc xe máy hiệu Honda Wave biển số 59H1-992.25 làm phương tiện đi bán v số hằng ngày. Vào ngày 13/11/2022, T mượn xe trên của bà N1 nói là đi chơi cùng bạn bè rồi sau đó dùng xe làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Bà N1 kh ng biết việc T sử d ng xe trên thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng x t xử trả lại xe trên cho bà N1.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Do luật sư đã thống nhất về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P nên Viện kiểm sát kh ng tranh luận. Đối với tình tiết bị cáo là lao động ch nh có hoàn cảnh khó khăn cha mắc bệnh nan y và ng nội là người khuyết tật đề nghị Hội đồng x t xử xem x t áp d ng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố t ng của cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố Hồ Ch Minh điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo người bào chữa bị hại người có quyền lợi và nghĩa v liên quan kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Tại các bản tự khai biên bản lấy lời khai biên bản hỏi cung bị cáo bị hại người có quyền lợi và nghĩa v liên quan đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện kh ng bị p cung nh c hình. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung Hội đồng x t xử đánh giá như sau:
Qua thẩm tra x t hỏi và tranh luận tại phiên toà các bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K, Nguyễn Hoàng P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được xác định phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại biên bản xác định địa điểm phạm tội biên bản thực nghiệm hiện trường dữ liệu tr ch xuất từ camera; phù hợp với nội dung của Kết luận định giá tài sản trong tố t ng hình sự cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của v án. Hội đồng x t xử có đủ cơ s kết luận:
Vào lúc 21 giờ 05 phút ngày 13/11/2022 tại đầu đường H (đoạn gần vòng xoay Q) thuộc Phường B Quận A Thành phố Hồ Ch Minh lợi d ng sơ h của bị hại Prasad Shankar Mahadevappa khi đang sử d ng điện thoại trong lúc băng qua đường H, Phạm Quang T đã có hành vi điều khiển xe m t với tốc độ cao áp sát ph a bên trái của bị hại P2 để Lương Ch K nhanh chóng chiếm đoạt của bị hại Prasad 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương sau đó cả hai cùng tẩu thoát về hướng đường L Quận A. Tài sản sau khi chiếm đoạt được, T mang đến cửa hàng Đ số D M phường B quận B rồi bán cho Nguyễn Hoàng P với giá 7.000.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán tài sản cướp giật T chia cho K 3.000.000 đồng và tiêu xài hết số tiền 4.000.000 đồng còn lại. Tại thời điểm mua điện thoại trên của T, P biết tài sản T do việc phạm tội mà có mặc dù kh ng hứa hẹn từ trước nhưng vì ham lợi nên P đã đồng ý mua điện thoại trên của T để bán lại cho một người đàn ng kh ng rõ lai lịch với giá 7.500.000 đồng P hư ng lợi số tiền 500.000 đồng. Căn cứ bản kết luận định giá số 381/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự Quận 1 xác định 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 128Gb màu xanh mà các bị cáo chiếm đoạt tiêu th có trị giá 17.250.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Quang T, Lương Chí K đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng P đã phạm vào tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh truy tố là có căn cứ đúng pháp luật.
Hội đồng x t xử x t thấy hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn T1, Lương Ch K là rất nguy hiểm cho xã hội kh ng những xâm phạm trực tiếp đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của c ng dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng P là nguy hiểm cho xã hội kh ng những xâm phạm đến t nh đúng đắn và t nh có tổ chức của trật tự xã hội mà còn tạo điều kiện làm phát sinh thúc đẩy các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản. Các bị cáo đều là người trên 18 tuổi và kh ng thuộc trường hợp kh ng có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì tư lợi mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T1 và K điều khiển xe m t với tốc độ cao áp sát bị hại để cướp giật tài sản nên thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt và tiêu th trị giá 17.250.000 đồng. Do đó cần áp d ng điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo đối với các bị cáo T1 bị cáo K và áp d ng khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử phạt đối với bị cáo P.
Về t nh chất đồng phạm trong tội “Cướp giật tài sản”: Các bị cáo T1 và K thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn các bị cáo đều là người thực hành trong đó bị cáo T1 có vai trò cao hơn khi là người kh i xướng rủ rê bị cáo K phạm tội. Đồng thời T1 là người bán tài sản quyết định tỷ lệ chia tiền hư ng lợi nên cần có mức hình phạt tương xứng với t nh chất vai trò của từng bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra truy tố x t xử các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Bị cáo Phạm Văn T1 đã tác động gia đình nộp khắc ph c số tiền 4.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Hoàng P mặc dù kh ng có nghĩa v bồi thường nhưng đã tác động gia đình nộp khắc ph c số tiền 7.000.000 đồng nên các bị cáo T1, P được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo Nguyễn Hoàng P gia đình có hoàn cảnh khó khăn bị cáo là lao động ch nh có xác nhận của ch nh quyền xã H, huyện V tỉnh Vĩnh Long nên được áp d ng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Về nhân thân: Bị cáo Phạm Văn T1 có 01 tiền sự về hành vi gây thương t ch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; bị cáo Lương Chí K có 01 tiền sự về hành vi t tập gây mất trật tự c ng cộng và tàng trữ trái ph p vũ kh có t nh năng tác d ng tương tự vũ kh th sơ nên cần xem x t các bị cáo là người có nhân thân xấu khi quyết định hình phạt.
Căn cứ t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đặc điểm nhân thân các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như đã nêu Hội đồng x t xử x t thấy cần có mức hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo d c răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với Nguyễn Hoàng P, ngoài hành vi tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có của v án này bị cáo P còn thực hiện hành vi tiêu th 02 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax trị giá 23.000.000 đồng trong v án do Nguyễn Hoàng Hùng D và đồng phạm thực hiện được Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Ch Minh x t xử tại bản án số 124/2023/HS-ST ngày 30/8/2023. T nh đến thời điểm x t xử sơ thẩm v án này thì bản án số 124/2023/HS-ST của Tòa án nhân dân Quận 1 đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cáo chưa thi hành án. Do đó sau khi quyết định hình phạt đối với tội danh đang bị x t xử Hội đồng x t xử tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo P.
Về biện pháp tư pháp:
Mặc dù trong quá trình điều tra bị hại P3 đã xuất cảnh về nước nên kh ng ghi rõ được yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên Hội đồng x t xử căn cứ kết luận định giá tài sản xác định trị giá 01 điện thoại di động hiệu Iphone các bị cáo T1, K chiếm đoạt của bị hại là 17.250.000 đồng. Trong đó bị cáo T1 đã tự nguyện nộp khắc ph c số tiền 4.000.000 đồng bị cáo P đã tự nguyện nộp khắc ph c số tiền 7.000.000 đồng. Số tiền 6.250.000 đồng còn thiếu x t cần áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) buộc các bị cáo T1 và K liên đới bồi thường cho bị hại.
Đối với số tiền 500.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Hoàng P hư ng lợi từ việc phạm tội mà có cần buộc bị cáo nộp lại để sung Ngân sách Nhà nước. Hội đồng x t xử ghi nhận bị cáo đã nộp lại số tiền này trong giai đoạn điều tra.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo khoác màu đen 01 quần Jean dài màu đen có chữ ADIDAS trên ngực áo 01 nón bảo hiểm màu xám thu giữ của Nguyễn Quang T2; 01 áo khoác màu đen có chữ ADIDAS trên ngực áo 01 quần Short Jean màu đen thu giữ của Lương Ch K là trang ph c các bị cáo sử d ng tại thời điểm thực hiện tội phạm kh ng có giá trị sử d ng x t cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI thu giữ của Phạm Quang T và 01 điện thoại di động hiệu REALMI màu đen thu giữ của Lương Chí K là tài sản hợp pháp của các bị cáo kh ng liên quan đến tội phạm x t cần trả lại các tài sản trên cho các bị cáo T và K nhưng tiếp t c tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh dương biển số 59H1-992.25 thu giữ của Phạm Quang T. Qua xác minh xe trên do bà Nguyễn Thị N1 (là nội của bị cáo T) đứng tên s hữu. Ngày 13/11/2022 T mượn xe trên của bà N1 nói là đi chơi cùng bạn bè rồi sau đó dùng xe làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản. X t thời điểm bị cáo phạm tội bà N1 kh ng biết và kh ng có lỗi trong việc bị cáo sử d ng tài sản trên để thực hiện tội phạm nên cần trả lại chiếc xe trên cho bà N1.
Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm án ph dân sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 135 136 Bộ luật Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Phạm Quang T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù t nh từ ngày 19/12/2022
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Lương Ch K 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù t nh từ ngày 19/12/2022
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp với hình phạt 09 (ch n) tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có” của Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Ch Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 19/12/2022
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Buộc các bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K liên đới bồi thường cho bị hại Prasad Shankar M số tiền: 6.250.000 (sáu triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng. Phân định bị cáo Phạm Quang T có trách nhiệm bồi thường 3.250.000 (ba triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng; bị cáo Lương Ch K có trách nhiệm bồi thường 3.000.000 (ba triệu) đồng.
Tr ch số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng để trả lại cho bị hại Prasad Shankar M. (Theo 02 giấy nộp tiền lập ngày 06/3/2023 nộp vào tài khoản 3949.0.9059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra C ng an Thành phố Hồ Chí Minh tại Kho bạc nhà nước Q2).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017,
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng (Theo giấy nộp tiền lập ngày 06/3/2023 tên người nộp Nguyen Thi Cam H1, nộp vào tài khoản 3949.0.9059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Ch Minh tại Kho bạc nhà nước Q2).
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021,
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) áo khoác màu đen có chữ ADIDAS trên ngực áo; 02 (hai) quần Jean màu đen (1 ngắn 1 dài) 01 nón bảo hiểm màu xám.
Trả lại cho Phạm Quang T: 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI (trầy tróc model RNE-L22 kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho Lương Ch K: 01 điện thoại di động hiệu REALMI màu đen (kh ng kiểm tra I do kh ng có nguồn điện kh ng kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị N1: 01 xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Honda số loại: Wave dung t ch xi lanh: 109 BS: 59H1-992.25, SK: RLHJA3911KY440487 SM: JA39E1311371 (kh ng bửng kh ng gương dàn nhựa bể xe cũ rỉ s t máy móc bên trong kh ng kiểm tra).
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/345 ngày 27/6/2023 của C c Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Ch Minh)
Căn cứ Điều 135 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Các bị cáo Phạm Quang T, Lương Ch K mỗi bị cáo chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án ph dân sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331 Điều 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021
Trong thời hạn 15 ngày t nh kể từ ngày tuyên án các bị cáo người có quyền lợi nghĩa v liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo xin x t xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo xin x t xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp Cao; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - C c THA DS TP. HCM; (1) - S tư pháp; (1) - Cơ quan điều tra; (1) - Trại tạm giam; (3) - Bị cáo; (3) - Đương sự; (2) - THA HS; (3) - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT THS hồ sơ; (25) (3) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hƣơng Giang |