vanban.org

Bản án 540/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị C: Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị C được ly hôn với ông Lê Mạnh C1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 540/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Mỹ Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Minh Tâm

2. Ông Nguyễn Tấn Nghiệp

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 793/2022/HNST ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị C - sinh năm 1977; Địa chỉ: Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);

- Bị đơn: Ông Lê Mạnh C1 – sinh năm 1970; Địa chỉ: Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đơn phương ly hôn đề ngày 15/7/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Thị C trình bày: Bà và ông Lê Mạnh C1 kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01/2010 cấp ngày 17/7/2010). Sau khi kết hôn, hai bên chung sống tại địa chỉ số Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống được năm năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do hai bên không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, ông C1 còn có hành vi bạo hành bà. Hai bên đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông C1 và muốn ổn định cuộc sống để lo cho con nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C1.

Về con chung: Bà C khai bà và ông C1 có 01 con chung là Lê Mạnh T – sinh ngày 21/9/2004 (đã thành niên).

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết.

Về nợ chung: Bà C khai không có.

Bị đơn, ông Lê Mạnh C1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để cung cấp lời khai, thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì về vụ án.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị C vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông C1 vì vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục. Về con chung: Có 01 con chung là Lê Mạnh T – sinh ngày 21/9/2004 (đã thành niên). Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà C khai không có.

Ông Lê Mạnh C1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Yêu cầu của bà C là có cơ sở, phù hợp pháp luật, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn – bà Trần Thị C nộp đơn xin ly hôn với bị đơn là ông Lê

Mạnh C1. Ông C1 hiện đang cư trú tại Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Mạnh C1 không đến

Tòa án để giải quyết mă ̣c dù đa đượ̃

c tống đa ̣t hợp lê ̣ thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập để trình bày ý kiến, thông báo tham gia các phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p, tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ , thông báo kết quả phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p, tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ , quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Mạnh C1.

Về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01/2010 do Ủy ban

nhân dân Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/7/2010 thì quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị C và ông Lê Mạnh C1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo bà C trình bày: Trong quá trình chung sống, hai bên không hòa hợp

tính tình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, căng thẳng. Vợ chồng không có tiếng nói chung nên không thể khắc phục được mâu thuẫn. Cả hai đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay nên khó có cơ hội hàn gắn tình cảm. Xét thấy, trong quan hệ vợ chồng giữa bà C và ông C1 không còn sự quan tâm, chia sẻ và tôn trọng nhau, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Phía bà C kiên quyết xin ly hôn, ông C1 không có mặt khi Tòa án triệu tập và cũng không có bất cứ ý kiến trình bày nào đối với yêu cầu ly hôn của bà C, thể hiện ông C1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có công văn gởi Ủy ban nhân dân Phường 5, quận Tân Bình để xác minh về mâu thuẫn gia đình giữa bà C và ông C1. Tuy nhiên Ủy ban nhân dân Phường 5, quận Tân Bình trả lời không có thông tin về mâu thuẫn gia đình giữa bà C và ông C1. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ nên chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung là Lê Mạnh T – sinh ngày 21/9/2004 (đã thành niên).

Về tài sản chung: Bà C yêu cầu tự thỏa thuận giải quyết, về nợ chung: Bà C khai không có. Ông C1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến về tài sản chung và tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân

sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, bà C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031803 ngày 29/07/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1

Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị C:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị C được ly hôn với ông Lê Mạnh C1.

- Về con chung: Có 01 con chung là Lê Mạnh T – sinh ngày 21/9/2004

(đã thành niên).

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết.

- Về nợ chung: Bà C khai không có.

2. Án phí ly hôn sơ thẩm do bà Trần Thị C phải nộp là 300.000 (ba trăm

nghìn) đồng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do bà C đã nộp theo biên lai số 0031803 ngày 29/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Bà Trần Thị C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án. Ông Lê Mạnh C1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được

quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

̀

̉ Nơi nhận:

TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM

- Tòa án nhân dân TP.HCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân Q.Tân Bình;

- Chi cục Thi hành án dân sự Q.Tân Bình;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ

Hoàng Mỹ Kiều

̀

̉

HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA Bùi Thị Minh Tâm Nguyễn Tấn Nghiệp

Hoàng Mỹ Kiều

̀

̉

Cỡ chữ