- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM LÝ QUỲNH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Lý Q , Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 208/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 540/2022/HS-PT Ngày 13-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ
Các Thẩm phán: 1. Ông Lê Công Huân
2. Ông Ngô Ngọc Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 460/2022/HSPT ngày 03/11/2022 đối với bị cáo Phạm Lý Q do có kháng cáo của bị cáo Phạm Lý Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Lý Q sinh năm 1973, tại tỉnh Hà Tĩnh; Hộ khẩu thường trú tại số 109/14/5 đường TCH 13, Tổ 9, Khu phố 9, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú, sinh sống: Số 109/14/5, đường TCH13, Tổ 9, Khu phố 9, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Phạm Kim Quang (chết) và bà Nguyễn Thị Sinh; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ, 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2017); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người bào chữa:
Ông Nguyễn Văn Hạnh là luật sư Thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Phạm Lý Q (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 14 tháng 11 năm 2019, sau khi ông Phạm Quang S và vợ là Nguyễn Thị H , ông Vũ Đ Hà và ông Vũ Đình T cùng tham gia ăn uống tại 01 quán ăn (chưa xác định) thì ông Sương điều khiển xe ô tô biển số 51G-369.00 lưu thông trên đường Lê Văn Kh hướng từ Cầu Dừa về giao lộ đường Lê Văn Kh và đường Nguyễn Ảnh T chở bà H và ông H , còn ông Tùng điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi phía sau xe ô tô của ông S . Khi xe ô tô biển số 51G-369.00 lưu thông đến khu vực gần giao lộ đường Lê Văn Khương và đường Nguyễn Ảnh T thì xảy ra va chạm với xe ô tô biển số 51G-501.61 do Phạm Lý Q điều khiển. Sau va chạm, hai bên cùng điều khiển xe ô tô đến trước ki-ốt không số, cạnh nhà số 2A, đường Nguyễn Ảnh Thủ, Tổ 18, khu phố 2, phường Hiệp Thành, Quận 12 để nói chuyện thì giữa Phạm Lý Q và nhóm của ông S , ông T và ông H xảy ra xô xát. Q lấy dao bấm đâm trúng vùng bụng, gò má trái, vùng dưới cằm bên phải và vùng khuỷu tay trái của ông Sương gây thương tích, Q tiếp tục dùng dao bấm đâm trúng vùng lưng phía sau bên phải ông T gây thương tích, Q dùng dao bấm đậm trúng tay trái, đùi hai chân và hai mắt cá chân của ông Hà gây thương tích nên ông Sương, ông Hà và ông T được bà Hằng đưa đi cấp cứu, sau đó đến Công an phường Hiệp Thành, Quận 12 trình báo sự việc. Khi xô xát, Q cũng bị thương tích tại ngón tay phải và bắp chân phải nhưng từ chối giám định thương tích.
Kết luận giám định số 117/TgT.20 ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh kết luận đối với thương tích của ông Phạm Quang S kết luận: “Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn: Một sẹo nâu phẳng vùng má trái kích thước 4,3x(0,1-0,2)cm. Có tỉ lệ 03%. Một sẹo nâu phẳng vùng cổ phải kích thước 1x0,05cm. Có tỉ lệ 02%. Các thương tích trên do vật có cạnh sắc, vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra. Vết thương thấu bụng vùng hạ sườn trái gây thủng hai lỗ dạ dày, rách gan đã được khâu lỗ thủng, hiện còn: Một sẹo đâm nâu phẳng kích thước 1,6x0,1cm. Hai sẹo mổ nội soi kích thước tại hồng trái 0,7×0,1cm; tại hố chậu phải 1,4x0x2cm. Một sẹo mổ đường giữa bụng ngang qua một sẹo mổ nội soi lồi, lõm kích thước 15,5x(0,3- 0,8)cm. Có tỉ lệ 34%. Thương tích trên do vật sắc nhọn tác động gây ra. Vết thương phần mềm vùng mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái gây đứt một phần cơ gấp cổ tay trụ đã được khâu nối, hiện còn: Một sẹo nâu phẳng kích thước 5,1x(0,1-0,2)cm. Tổn thương nhánh thần kinh trụ trên điện cơ đồ. Hạn chế gấp, đối ngón V, khép các ngón. Có tỉ lệ 13%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra. Cộng lùi tỉ lệ trên sẽ ra tỉ lệ 45,41% làm tròn số sẽ là 45%.”
Kết luận giám định số 113/TgT.20 ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế TP Hồ Chí Minh kết luận đối với thương tích của anh Vũ Đình H kết luận: “Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn: Một sẹo tại mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái kích thước 4,5x(0,2-0,3)cm. Một sẹo tại mặt trước 1/3 trên đùi phải kích thước 1,3x0,5cm. Một sẹo tại mặt ngoài 1/3 giữa đùi trái kích thước 2x0,3cm, Có tỉ lệ 01% mỗi sẹo. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%. Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.”
Kết luận giám định số 145/TgT 20 ngày 04 tháng 3 năm 2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh kết luận đối với thương tích của anh Vũ Đình T kết luận: “Vết thương phần mềm vùng hông phải đã được điều trị hiện còn một sẹo lồi nhẹ kích thước 2x(0,1-0,7)cm, ổn định Ti lệ thương tích cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.”
Kết luận giám định pháp y về tâm thần số 2321/KLGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực TP. Hồ Chí Minh đối với Phạm Lý Q kết luận. “Về y học: Trước, trong và sau khi có hành vi vi phạm pháp luật ngày 14/11/2019 cho đến hiện tại, đối tượng bị rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F.60.3-ICD10); Về khả năng nhận thức và điểu khiển hành vi: Trước, trong và sau khi có hành vi vi phạm pháp luật ngày 14/11/2019 cho đến hiện tại, đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi".
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Lý Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Lý Q 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngày 29/9/2022 bị cáo Phạm Lý Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Lý Q thay đổi yêu cầu kháng cáo: xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích những những tình tiết định tội, định khung hình phạt và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã nhận định: Bản án hình sự sơ thẩm thẩm tuyên xử các bị cáo là đúng người, đúng tội. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có thái độ độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo có cha là người có công với cách mạng nên đã áp dụng các quy định tại điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để từ đó tuyên phạt bị cáo mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật.
Tuy nhiên, xét thấy nguyên ngân xảy ra vụ xuất phát từ phía bị hại đã va quẹt vào xe của bị cáo và đã có hành vi tấn công bị cáo trước nên lỗi xảy ra vụ án một phần do các bị hại gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm cho bị cáo một phần hình phạt từ 06 đến 10 năm tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh xét xử bị cáo, thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo, luật sư cho rằng là quá nặng, cho rằng nguyên nhân xảy ra vụ án là lỗi của bị hại, các bị hại có hành vi dùng rượu bia và xảy ra va quẹt với bị cáo, có hành vi tấn công bị cáo trước; bị cáo đã có hành vi dùng dao gây thương tích cho các bị hại trong tư thế nằm thể hiện bị cáo đang bị các bị hại tấn công; bị cáo là người có hạn chế năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ thêm cho bị cáo một phần hình phạt so với hình phạt Việt kiểm sát đã đề nghị giảm cho bị cáo.
Bị cáo Phạm Lý Q thống nhất lời bào chữa của luật sư, bị cáo bào chữa thêm: Không đồng ý với việc giám định đối với các bị hại không xác định các bị hại có nồng độ cồn vì các bị hại đã sử dụng rượu bia khi lái xe; Các bị hại đã có lỗi trước vì tông xe vào bên hông xe của bị cáo và cùng tấn công bị cáo, ói vào mặt bị cáo làm bị cáo không thấy gì, bị nhiều tấn công bị cáo nên bị cáo mới sử dụng dao bọc trong người quơ khắp nơi, không mục đích đâm người nào. Cha bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo đã bồi thường cho các bị hại và được bi hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát chấp nhận lời bào chữa của luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử giảm thêm cho bị cáo một phần hình phạt so với lời đề nghị ban đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 14 tháng 11 năm 2019, sau va chạm xe giữa ông Phạm Quang S và bị cáo Phạm Lý Q , hai bên cùng điều khiển xe ô tô đến trước ki-ốt không số, cạnh nhà số 2A, đường Nguyễn Ảnh Thủ, Tổ 18, khu phố 2, phường Hiệp Thành, Quận 12 để nói chuyện thì giữa Phạm Lý Q và nhóm của ông Sương, ông T và ông Hà xảy ra xô xát. Q đã có hành vi dùng dao bấm đâm trúng vùng bụng, gò má trái, vùng dưới cằm bên phải và vùng khuỷu tay trái của ông Sương gây thương tích, Q tiếp tục dùng dao bấm đâm trúng vùng lưng phía sau bên phải ông Tùng gây thương tích, Q dùng dao bấm đậm trúng tay trái, đùi hai chân và hai mắt cá chân của ông Hà gây thương tích.
Bị cáo Phạm Lý Q đã dùng dao bấm, đã gây thương tích cho các bị hại ông Phạm Quang S với tỷ lệ thương tích là 45%, ông Vũ Đình H với tỷ lệ thương tích là 03% và ông Vũ Đình T với tỷ lệ thương tích là 01 %.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, xác định bị hại có một phân lỗi gây ra xô xác, ông Vũ Đình H là người tấn công bị cáo trước. Tuy nhiên, bị cáo là người sử dụng dao bấm mang theo người để tấn công các bị hại và đâm lung tung, mặc kệ hậu quả đâm trúng ai. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả gây thương tích cho các bị hại như trên. Việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và “Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc trường hợp qui định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội không oan.
Bị cáo kháng cáo, đơn kháng cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Lý Q : Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo Phạm Lý Q các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; đã bồi thường, bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, có cha là người có công với cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất để từ đó áp dụng điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Lý Quỳnh 05 năm 06 tháng tù là có căn cứ phúc thẩm.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, căn cứ vào các tại liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của bị hại, bị cáo có căn cứ xác định: Nguyên nhân xảy ra vụ án từ việc xô xát sau khi va chạm giao thông giữa bị cáo và nhóm bị hại; nhóm bị hại là người có một phần lỗi là đã tấn công bị cáo trước, là nguyên nhân dẫn đến diễn biến của vụ án. Đồng thời, bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt; là người có hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển về hành vi. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và bào chữa của luật sư là có căn cứ được chấp nhận; Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, sửa bản án sơ thẩm số 208/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với yêu cầu xin được hưởng án treo của bị cáo: Xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không thuộc trường hợp được cho hưởng án treo theo quy định tại qui định tại Nghị quyết 02 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối Cao nên không có căn cứ được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Lý Q , Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 208/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt Bị cáo Phạm Lý Quỳnh 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Lý Quỳnh phải không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận 12; (1) - P.PC53-CA TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Thi hành án Quận 12; (2) - TAND Quận 12; (1) - Công an Quận 12; (1) - UBND nơi BC cư trú; (2) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (23) (7) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đức Thụ |