vanban.org

Bản án 540/2019/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 11/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm; cụ thể:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2018 về tội “Giết người”. Bị cáo Trần Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm; cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 540/2019/HSPT
Ngày 11/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Phúc;

- Các Thẩm phán: + Ông Thái Duy Nhiệm;

+ Ông Nguyễn Xuân Phách;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga, Thư ký của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 455/2019/TLPT-HS ngày 21/6/2019 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam;

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1961; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xóm 5, thôn Ch, xã BL, huyện LN, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá phổ thông: 7/10; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị D (đều đã chết); vợ là Trương Thị Ph và có 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2018, có mặt tại phiên tòa;

Bị hại: Nguyễn HA, sinh năm 1993 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị B2;

Đều có địa chỉ cư trú tại Xóm G 2, xã NT, huyện LN, tỉnh Hà Nam. Bà Trần Thị B2 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền đề ngày 29/01/2019; ông Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trang trại nuôi gà của gia đình thường xuyên bị mất trộm nên tối ngày 28/10/2018, Trần Văn H rủ cháu ruột là Trần Văn Kh ở cùng xóm đến trang trại để rình bắt trộm. Khi đi, anh Kh mang theo 01 đoạn ống kim loại sáng màu dài 36,5cm mục đích phòng vệ và để ở dưới gối trên giường ngủ trong trang trại, ở trang trại có sẵn 01 dao kim loại nhọn, dài 14cm, chuôi bằng gỗ, dạng dao bầu; 01 thanh gỗ hình chữ nhật kích thước (3 x l,7)cm, dài 117cm và 01 đoạn dây thừng là những đồ dùng H thường sử dụng trong công việc chăn nuôi. Đến khoảng 01 giờ đêm ngày 29/10/2018, do không phát hiện thấy có trộm nên Trần Văn H bảo anh Trần Văn Kh đi ngủ, khi nào phát hiện thấy có trộm sẽ gọi dậy.

Khoảng 24 giờ ngày 28/10/2018, Nguyễn HA rủ Trần Đình H2 (cả hai đều trú tại xã NT, huyện LN, tỉnh Hà Nam) đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài, Hải đồng ý. Sau đó, Nguyễn HA điều khiển xe mô tô không đeo biển kiểm soát chở theo Hải đi đến khu vực cánh đồng thuộc thôn Ch, xã BL, huyện LN thì HA dừng xe lại nói với Hải: “Ngồi chờ ở đây trông xe và đế ỷ người, tao vào đây kiếm ít tiền” rồi HA đi bộ theo cánh đồng vào trang trại của gia đình H. Do trời tối, trang trại không có ánh sáng điện nên HA bật đèn chiếu sáng điện thoại di động lên để soi và bắt trộm được 02 con gà mang ra gần chỗ Hải. Trần Văn H phát hiện thấy HA đi vào trong trang trại bắt trộm gà liền vào gọi anh Kh dậy nói: “Nó đến rồi, dậy thôi”! đồng thời H lấy đoạn dây thừng buộc vào ngang người, tay trái cầm dao nhọn, tay phải cầm đoạn gỗ rồi đi vào bên trong khu chuống nuôi gà ngồi rình. Anh Kh không mang theo đồ vật gì chạy ra ngồi rình ở lối đi chính vào khu chuồng nuôi gà. Khoảng hai phút sau, HA tiếp tục quay vào trang trại và bắt trộm được 02 con gà, kẹp vào hai nách; khi đi ra ngoài, đến gần vị trí H đang rình thì H đứng dậy, HA liền bỏ 02 con gà ra, dùng hai tay đấm, đẩy mạnh về phía H làm H bị ngã về phía sau, lưng dựa vào tường gạch. Sau đó, HA bỏ chạy thì H từ phía sau dùng tay trái đang cầm dao đâm một nhát từ trên xuống dưới trúng vào lưng trái HA. HA quay lại dùng chân đá vào ngực, bụng H thì H lùi lại tránh được, H tiếp tục dùng dao đâm một nhát trúng vào đùi phải HA. Lúc này, anh Kh chạy đến cùng H khống chế HA, H dùng dây thừng bắt trói HA lại. Ngay sau khi khống chế được HA, H và anh Kh gọi điện thoại di động cho người thân trong gia đình để trình báo chính quyền địa phương và bảo người nhà kéo xe ba gác ra trang trại để đưa HA đi cấp cứu nhưng chưa kịp đưa đi thì HA đã tử vong.

Đối với Trần Đình H2, trong lúc cảnh giới cho HA thì nghe thấy có tiếng người hô “Trộm, trộm”, Hải liền điều khiển xe mô tô đi lòng vòng trên đường tìm HA thì bị lực Công an xã BL, huyện LN phát hiện, kiểm tra, Trần Đình H2 đã để lại xe mô tô rồi bỏ chạy.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường vụ giết người xảy ra ngày 29/10/2019 tại khu trang trại chăn nuôi của gia đình Trần Văn H ở xóm 5, thôn Ch, xã BL, huyện LN, tỉnh Hà Nam. Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do quá trình đi lại, cấp cứu nạn nhân của người dân và nhân viên y tế.

Vật chứng thu giữ: Các dấu vết máu; 01 chiếc dao kim loại chuôi gỗ; 01 thanh gỗ; 01 đoạn tuýp kim loại hình ống; 01 bộ quần áo; 01 bao tải xanh bên trong có 02 con gà và 01 đôi dép quai hậu.

Kết quả khảm nghiệm tử thi Nguyễn HA:

+ Khám ngoài: 1/3 dưới cẳng tay phải có hai vết hằn màu nâu khép kín song song với nhau, chiều dài 16cm, chiều rộng hai vết 02cm (01 vết là 0,7cm). Cách mỏm chân trụ 03cm và cách mỏm châm quay 3,5cm về phía trên. 1/3 dưới cẳng tay trái có 02 vết hằn màu nâu khép kín song song với nhau, chiều dài 16cm, chiều rộng l,6cm, bờ dưới sát mỏm châm quay, cách mỏm châm trụ Olcm về phía trên. Vùng lưng trái tương ứng với đốt sống D5-D6 có vết rách da xuyên thấu vào lồng ngực, bờ mép sắc gọn, kích thước (03x01) cm, song song với trục cơ thể đuôi nheo ở phía dưới, đầu trên cách gai sau đốt sống C7 là 13,5cm, cách gai sau đốt sống D6 là 06cm, hướng từ sau về trước, chếch từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, chiều sâu vết thương qua que thăm dò là 18cm. Mặt sau ngoài 1/3 trên đùi phải có vết rách da, kích thước (03x1,2) cm, góc nhọn ở phía trên, hướng từ trên xuống dưới, chếch từ phải qua trái, chiều sâu qua que thăm dò 8,5cm...

+ Mở ngực, bụng: Cơ và tổ chức dưới da không thấy thương tích; xương ức và các xương sườn bên phải không gãy.

+ Hố phổi phải khô, hố phổi trái chứa khoảng 1400ml máu lẫn máu đông; phổi phải sung huyết có chấm xuất huyết rải rác; phổi trái xẹp, thùy đáy phổi trái có hai vết rách song song và thông với nhau, vết thứ nhất gần rốn phải, kích thước (2,4 x 0,1) cm. Vết thứ hai kích thước (2,2 x 0,1) cm cách vết thứ nhất 03cm về phía ngoài. Quanh rốn phổi trái tụ máu, kích thước (15 x 05) cm. Sụn nhẫn không gãy, trong lòng khí phế quản phải có ít dịch nhày màu trắng trong. Bao tim nguyên vẹn, trong lòng bao tim láng dịch màu vàng nhạt, tim nhẽo kích thước (10 x 08 x 5,5) cm cột tim, van tim không thấy thương tích. Lách kích thước (13,5 x 06 x 02) cm, không thấy thương tích. Hai thận sung huyết, phân biệt rõ vùng tủy và vùng cơ. Trong lòng dạ dày chứa khoảng 700g thức ăn chưa nhuyễn hóa; các quai một không thấy thương tích.

+ Bìu: da, tổ chức dưới da và hai tinh hoàn không thấy tụ máu.

+ Vết rách da lưng trái: Tổ chức dưới da và cơ ngấm máu, kích thước (10 x 08) cm vết thương xuyên qua cơ liên sườn VII - VIII cắt đứt gần hoàn toàn xương sườn VII bên trái, xuyên thấu vào lồng ngực gây tụ máu xung quanh vết thương ở hố phổi trái, kích thước (06 x 05) cm làm thủng nhu mô thùy đáy mặt lưng phổi trái.

+ Vết thương đùi phải sâu sát xương: Cơ và tổ chức dưới da ngấm máu, kích thước (10x08) cm.

+ Các bộ phận khác không giải phẫu.

Quá trình khám nghiệm đã thu giữ quần áo của nạn nhân, mẫu máu, tim, gan, phổi, thận, lách, não, tiểu não, cơ da vùng tổn thương, dạ dày, chất chứa trong dạ dày để làm xét nghiệm.

Ngày 29/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam tiến hành giữ và khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Trần Văn H. Kết quả khám xét thu giữ 01 chiếc quần kaki dạng quần soóc màu ghi và 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng có cổ bẻ, trên áo có bám dính nhiều bụi bẩn.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể Trần Văn H xác định: Vùng lưng trái tương đương với đốt sống D9 có hai vết sạt da. Vết thứ nhất kích thước (1,2 x 0,2) cm hướng từ trái sang phải, chếch từ dưới lên trên, cách cột sống lưng 3,5cm; vết thứ hai kích thước (0,7 x 0,2) cm hướng từ trái sang phải, chếch từ dưới lên trên, cách vết thứ nhất 02cm về phía dưới.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể Trần Văn Kh xác định: Phía trước ngoài 1/3 trên cẳng chân trái có vết sạt da kích thước (2,5 x 0,5) cm hướng từ phải sang trái, chếch từ dưới lên trên; mép trong đốt 1 ngón 1 bàn chân trái có vết rách da kích thước (1,2 x 0,1) cm hướng từ trên xuống dưới, chếch từ trước về sau.

Tại Bản giám định pháp y về tử thi số 123/18/TT ngày 10/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương vùng lưng trái do tác động với vật có mũi nhọn, lưỡi sắc làm đứt xương sườn VII bên trái, xuyên thấu phổi gây tràn máu màng phổi.

Tử thi đang thời kỳ co cứng, đồng tử giãn, giác mạc mờ đục, trong dạ dày chứa khoảng 700g thức ăn chưa nhuyễn hóa.

Kết quả xét nghiệm mô bệnh học và độc chất: Hình ảnh phù, sung huyết, chảy máu da, cơ vùng tổn thương. Tim phù, sung huyết xen kẽ với thiếu máu. Phổi sung huyết, chảy máu, biểu mô phế quản bong tróc, một số vùng phế nang xẹp hoặc giãn rộng, vách phế nang rách, đứt. Không tìm thấy các chất độc trong phủ tạng. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn HA tử vong do suy hô hấp cấp và suy tuần hoàn cấp do hậu quả vết thương thấu ngực. Thời gian xét nghiệm dưới 12 giờ.

Tại Bản giám định hóa pháp số 537/346/422/19/HP ngày 09/11/2018 của Viện pháp y Quốc gia kết luận: Trong mẫu phủ tạng của nạn nhân Nguyễn HA không tìm thấy các độc chất.

Tại Bản giám định pháp y về mô bệnh học số 160/18/MBH ngày 27/11/2018 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Da phù, sung huyết, chảy máu; cơ phù, sung huyết, chảy máu; não phù, sung huyết; tim phù, sung huyết xen kẽ với thiếu máu; phổi sung huyết, chảy máu, biểu mô phế quản bong tróc, một số vùng phế nang xẹp hoặc giãn rộng, vách phế nang rách, đứt; hạch chảy máu trong mô kẽ quanh hạch; gan sung huyết, nhiều tế bào viêm loại một nhân xâm nhập khoảng cửa; thận phù, sung huyết; lách sung huyết.

Tại Bản giảm định sổ 6033/C09(TT3) ngày 30/11/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết máu người bám dính trên chiếc quần dài và chiếc áo dài tay (cùng ký hiệu K6) gửi giám định. Trên chiếc quần dài (ký hiệu K4) bám dính máu người; không phân tích được kiếu gen từ dấu vết máu người này do chất lượng dấu vết kém. Trên con dao nhọn (ký hiệu K7) và chiếc áo sơ mi dài tay (cùng ký hiệu K4) đều bám dính máu của Nguyễn HA.

Tại Bản giám định sổ 06/SH-PC09 ngày 07/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Máu trong phong bì niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định thuộc nhóm máu o.

Tại Bản giám định số 36/PC09-SKSM ngày 14/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu gửi giám định có số khung nguyên thủy VTTPCG022TT ☆ 027170 ☆; số máy nguyên thủy VTT1P50FMG.

Tại kết luận định giá tài sản số 22/2018/KL-ĐGTS ngày 05/11/2018 của Hội đồng định giá xác định: 02 con gà trống màu nâu vàng có trọng lượng 05kg, trị giá là 600.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Nguyễn Văn Biên là người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn HA không yêu cầu bồi thường dân sự. Tuy nhiên, gia đình bị cáo Trần Văn H vẫn mang số tiền 100.000.000 đồng đến nhà ông Biên để bồi thường, gia đình ông Biên chỉ nhận 50.000.000 đồng và có đơn đề nghị xem xét xin miễn truy cứu, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bảo lãnh cho bị cáo H tại ngoại. Đối với hành vi “Trộm cắp tài sản”, gia đình bị cáo là bà Phương đã nhận lại đủ 02 con gà nên không đề nghị về việc bị cáo phải bồi thường.

Tại phiên tòa sơ thẩm, quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H và cả bị cáo đều cho rằng, bị cáo có phạm tội nhưng chỉ phạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 126 của Bộ luật Hình sự, theo đó đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo điểm a khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cũng tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Biên đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo, còn về phần trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ các khoản theo yêu cầu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Giết người”, xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/5/2019, bị cáo Trần Văn H kháng cáo xin giảm hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, ý kiến tranh luận của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH VỀ VỤ ÁN:

Nghiên cứu hồ sơ vụ án, kết quả quá trình điều tra, diễn biến và kết quả phiên tòa sơ thẩm và đặc biệt nghiên cứu đơn kháng cáo của bị cáo và thông qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm đánh giá và nhận định về vụ án như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm cũng như phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Lời khai của bị cáo tại các phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Đêm ngày 28/10/2018, Nguyễn HA đã rủ Trần Đình H2 đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng hơn 01 giờ ngày 29/10/2018, khi đến gần trang trại nuôi gà của gia đình Trần Văn H (ở xóm 5, thôn Ch, xã BL, huyện LN, tỉnh Hà Nam), Hải đứng ngoài cảnh giới còn Nguyễn HA vào trong trang trại và bắt trộm được 02 con gà trống mang ra ngoài. Sau đó, Nguyễn HA tiếp tục vào bắt trộm được 02 con gà, kẹp vào nách đi ra ngoài thì bị Trần Văn H từ phía sau, dùng tay trái đang cầm dao nhọn đâm một nhát từ trên xuống dưới trúng vào lưng trái, Nguyễn HA quay lại dùng chân đá vào người H nhưng H lùi lại tránh được. H tiếp tục dùng dao nhọn đâm một nhát trúng vào đùi phải của Nguyễn HA, sau đó cùng anh Trần Văn Kh khống chế Nguyễn HA trói lại. Hậu quả Nguyễn HA bị tử vong do bị suy hô hấp cấp và suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu ngực.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thừa nhận phạm tội giết người nhưng cũng đều thừa nhận hành vi đã dùng dao đâm người bị hại hai nhát dẫn đến bị hại tử vong. Trần Văn H cho rằng, bị cáo phạm tội do tự vệ, tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Kh trong quá trình điều tra vụ án và các bản tường trình của bị cáo đều thừa nhận đã sử dụng dao đâm Nguyễn HA; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như quá trình điều tra vụ án, mặc dù lời khai của bị cáo Trần Văn H khai tuy có sự mâu thuẫn với nhau ở các giai đoạn tố tụng về cách thức thực hiện tội phạm, chưa thống nhất trong lời khai về hành vi phạm tội song đều thừa nhận có đâm bị hại hai nhát nhưng là để tự vệ. Hành vi phạm tội trong trường hợp này của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị tiền án, tiền sự; đã tích cực tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân; đại diện hợp pháp của bị hại cũng có đơn đề nghị xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Thêm nữa, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia quân đội, bố đẻ là ông Trần Văn Tâng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 09 năm tù đối với bị cáo là có phần quá nghiêm khắc, cho nên, cùng với việc đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ở phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giảm cho bị cáo một phần hình phạt so với quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo có kháng cáo nhưng đã được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, cho nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm; cụ thể:

1. Áp dụng khoản 2 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 47, 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2018 về tội “Giết người”.

3. Bị cáo Trần Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ