vanban.org

Bản án 54

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên b bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
T A N NH N D N C NG H A
HUY N Q
T NH N
* * *

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 54/2018/HSST
Ngày: 17 - 7 - 2018.
N C C NG H A

T A N NH N D N HUY N Q, T NH N

- Thàn phần H i đ ng t s th g c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuần; Ông Phạm Tuấn Anh.

- Thư ký biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q.

- Đại diện Viện kiể sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án; Tòa án nhân dân huyện Q đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 59/2018/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 60/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2018 đ i với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T (Tên gọi khác: Bắc kỳ Kiên, Cào Cào) - sinh năm 1967 tại N; nơi cư trú: tổ 11, khu ph H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh N; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; qu c tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị K (đã chết); vợ: Nguyễn Thị L – sinh năm 1972 và 03 con (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền sự: không; có 01 tiền án: Tại b n án s 98/2015/HSST ngày 06/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Q đã xử phạt Phạm Văn T 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/4/2017; bắt tạm giam ngày 07/3/2018 đến nay “có mặt”.

N DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 19 giờ ngày 06/3/2018, Phạm Văn T lên khu vực chợ Phương L thuộc huyện T, tỉnh N mua của đ i tượng tên Thắng (chưa rõ nhân thân lai

- 1 -

lịch) 01 bịch Heroin với giá 2.400.000 đồng. T mang về nhà phân nhỏ thành 38 gói để sử dụng cho b n thân. Vào kho ng 13 giờ 45 phút ngày 07/03/2018, T đang nằm ngủ trưa tại khu vực trước nhà tại tổ 11, khu ph H, thị trấn Q, thì bị Đội C nh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy ph i hợp cùng Công an thị trấn Q bắt qu tang, thu giữ của T 38 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại B n kết luận giám định s 157/PC54-GĐMT ngày 13/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC54) - Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 1,2588 gam, loại: heroin

Tại b n Cáo trạng s 55/CT-VKSĐQ ngày 29 tháng 6 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đã truy t bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thay đổi một phần cáo trạng là loại bỏ tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h kho n 1 Điều 52, bổ sung thêm điểm a kho n 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm a, c kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1 và kho n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Phạm Văn T đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên; bị cáo thành khẩn nhận tội và xin gi m nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ để kết tội đ i với bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên b n bắt người phạm tội qu tang, phù hợp lời khai của người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Vào kho ng 13 giờ 45 phút ngày 07/3/2018 tại tổ 11, khu ph H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh N, Phạm Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,2588 gam Heroin thì bị Công an bắt qu tang.

- 2 -

Bị cáo Phạm Văn T là người chưa được xóa án tích đ i với b n án hình sự s 98/2015/HSST ngày 06/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh N, nay lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành của bị cáo Phạm Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c kho n 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy t bị cáo tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét thấy: ma túy là hiểm họa của mọi người, mọi nhà; là một loại chất cấm lưu hành, do nhà nước độc quyền qu n lý. Bị cáo T cũng nhận thức được tác hại của ma túy đ i với b n thân, gia đình và xã hội nhưng không quyết tâm từ bỏ mà lại vi phạm pháp luật bằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian để trừng phạt và giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Phạm Văn T thì thấy rằng: Bị cáo đang có tiền án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đã xem xét là tình tiết định khung hình phạt nên không ph i chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i nên được gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là lao động chính, hoàn c nh kinh tế khó khăn; bị cáo đang ph i điều trị tiểu đường, suy vỏ tủy thượng thận nên được xem xét gi m nhẹ một phần hình phạt theo kho n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về biện pháp tư pháp:

- 01 gói niêm phong vụ s 157/PC54-GĐMT ngày 13/03/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh N (ma túy còn lại sau giám định): là chất cấm lưu hành nên căn cứ điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Tòa án tịch thu tiêu hủy.

- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Tòa án tịch thu tiêu hủy.

Đ i tượng “Thắng” bán ma túy cho T nhưng hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo T ph i chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, c kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1 và kho n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật t tụng

- 3 -

hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên b bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2018.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ s 157/PC54-GĐMT ngày 13/03/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh N và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.

(Gói niêm phong do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q qu n lý theo biên b n giao nhận vật chứng ngày 02/7/2018; Dụng cụ sử dụng ma túy do Công an huyện Q qu n lý theo biên b n bắt người phạm tội qu tang ngày 07/3/2018).

Bị cáo Phạm Văn T ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M H ĐỒNG ÉT Ử SƠ THẨM

THẨM PH N - CH TỌA PH ÊN T A N i nhận: TAND tỉnh N. VKSND tỉnh N. VKSND huyện Q. Công an huyện Q. Chi cục THADS huyện Q. Bị cáo. Lưu hồ sơ, VP.

Lê Xuân Hòa

- 4 -

Cỡ chữ