- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Ích V - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Ích V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐB | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐB Bản án số: 54/2026/HS-ST Ngày 10 - 03 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐB
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Thái
bà Lò Thị Hiêng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Đặng Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - ĐB
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - ĐB tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - ĐB xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bế Ích V;Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh năm: 1988, tại: tỉnh ĐB; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Tổ 09, phường Đ, tỉnh ĐB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Ích Đ và bà Chu Thị N; có vợ là Cà Thị L (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/12/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 03 tháng tù về tội: “trộm cắp tài sản”, bản án này bị cáo đã được xóa án tích. Ngày 27/9/2003, bị Công an phường Th ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản” bằng hình thức cảnh cáo, đã hết thời hiệu thi hành Quyết định, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 29/9/2025, Bế Ích V mang theo bơm kim tiêm và chai nước lọc đi bộ từ nhà tại tổ 9 đến khu vực chợ C13 thuộc tổ 10 cùng thuộc phường Đ, tỉnh ĐB. V thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi đến bản P, xã T, tỉnh ĐB để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến đường liên bản thuộc bản P, xã T, tỉnh ĐB, V bảo người lái xe ôm dừng và chờ ở đó, còn V đi bộ đến khu vực giáp ranh với bản N, xã T1, tỉnh ĐB, thì gặp một người đàn ông không quen và mua của người này được một gói Heroine gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 150.000 đồng. Sau đó, V đi bộ 60m theo đường đến bản P thì rẽ vào bụi tre ven đường để sử dụng Heroine. Tại đây, V đổ toàn bộ số Heroine vào bơm kim tiêm, rồi rút nước từ chai nước mang theo, lắc đều cho Heroine tan ra, sau đó V tự tiêm vào tĩnh mạch ở mặt trong khửu tay trái của mình, sử dụng Heroine xong V vứt luôn bơm kim tiêm, chai nước lọc và mảnh nilon màu trắng tại đó. Khoảng 15 phút sau, V đi bộ đến chỗ người lái xe ôm để đi về nhà.
Ngày 07/10/2025 Công an phường Đ sau khi tiếp nhận tin báo của công dân đã tiến hành test nhanh kiểm tra chất ma túy trong cơ thể Bế Ích V, kết quả: Dương tính với chất ma túy, đồng thời thu mẫu nước tiểu của V để trưng cầu giám định chất ma túy có trong cơ thể Bế Ích V. Tại bản kết luận giám định số 991/KL-KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐB kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Bế Ích V gửi giám định tìm thấy Methadone và sản phẩm chuyển hóa của Heroine gồm Morphine, MAM-6.
Bế Ích V đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế là Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh ĐB từ ngày 05/03/2025 cho đến ngày bị bắt theo Luật Phòng, chống ma túy.
Đối với bơm kim tiêm, chai nước lọc, mảnh nilon màu trắng Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.
Tại Bản cáo trạng số: 54/CT-VKSKV1 ngày 28/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - ĐB truy tố bị cáo Bế Ích V về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 (sau đây gọi tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Vật chứng; Không còn.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 29/9/2025, tại bụi tre bên đường dân sinh thuộc bản P, Bế Ích V đã sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tiêm vào tĩnh mạch ở mặt trong của khửu tay trái của mình, sử dụng Heroine xong V vứt luôn bơm kim tiêm, chai nước lọc và mảnh nilon màu trắng tại đó. Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Trung tâm kiểm soát bệnh tật Sở Y tế tỉnh ĐB từ ngày 05/03/2025 cho đến ngày bị bắt.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - ĐB truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
.Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho thấy:
Nhân thân: Ngày 27/9/2003, Công an phường Th ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 171 đối với Bế Ích V về hành vi Trộm cắp, hình thức phạt cảnh cáo.
Theo Bản án số 22/2008/HSST ngày 11/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Đ (cũ) áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 tuyên phạt Bế Ích V tội “Trộm cắp tài sản”, hình phạt 03 tháng tù, án phí HSST 50.000 đồng. Theo công văn số 157/CV-TA ngày 16/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - ĐB, bị cáo Bế Ích V đã chấp hành xong hình phạt tù trong thời gian bị tạm giam. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích. Mặc dù đã được xoá án tích nhưng điều này cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và bị cáo có ông nội và mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông bán trái phép ma túy cho bị cáo, do không xác định được tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ.
Đối với người đàn ông lái xe ôm chở bị cáo từ chợ C13 đến bản P, xã T, tỉnh Đ, do không xác định được tên, địa chỉ, nhãn hiệu và biển kiểm soát xe nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ
Về vật chứng của vụ án: Không có
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo:Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ĐB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - ĐB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Ích V phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Ích V 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 11/10/2025).
3. Xử lý vật chứng: Không có
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/3/2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh ĐB; - VKSND khu vực 1 - ĐB; - Công an tỉnh ĐB (Phòng HSNV + CQCSĐT + CQTHAHS); - Phân trại tạm giam M; - THADS tỉnh ĐB; - Bị cáo; - Lưu: Hs, hs THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Bạc Thị Liên |