- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị T - Nguyễn Văn H - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2026/HNGĐ-ST Ngày 25 - 5 - 2026. V/v “Ly hôn, con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuê.
Bà Lại Thị Hồng Lê .
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2026, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh ngày 11/7/1997.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường K, tỉnh Ninh Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh ngày 17/7/1989.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 3 năm 2026 và các lời khai tại Tòa án, chị Đinh Thị T là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn hoàn toàn tự nguyện, trước khi cưới có được tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 28/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là phường K, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng một năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H vô tâm, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Một mình chị phải quán xuyến mọi việc và cố gắng vun vén cho hạnh phúc gia đình nhưng anh H lại không quan gì đến sự vất vả cũng như cảm xúc của chị, khiến chị luôn cảm thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh H không thay đổi dẫn đến vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm trong cuộc sống và thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình, đoàn thể địa phương hòa giải nhưng không thành. Đỉnh điểm là vào cuối năm 2017, sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị đã đưa con ra ở riêng. Từ đó vợ chồng sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng và không còn quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 31/3/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu D ở với chị. Khi ly hôn, nguyện vọng của chị là xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Chị Đinh Thị T là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn H là bị đơn đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Văn H. 2. Con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 31/3/2017 cho chị Đinh Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. 3. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng quan điểm đề nghị về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Đinh Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn H là bị đơn; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường K, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân khu vực 5 - Ninh Bình. Chị Đinh Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là phường K, tỉnh Ninh Bình). Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T, anh H chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, không thể hàn gắn. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay, không quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng chị T, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn anh H là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị T, anh H có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 31/3/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu D ở với chị T, được chị T nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt. Nguyện vọng của chị T là xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Để không xáo trộn cuộc sống của cháu D cũng như ý kiến, nguyện vọng của cháu D xin được ở với mẹ, được Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cháu D cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Văn H.
2. Con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 31/3/2017 cho chị Đinh Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của chị T. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ khoản tạm ứng án phí 300.000đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001153 ngày 13 tháng 3 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
4. Quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị T, anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - UBND phường Kim Bảng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |