- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Hoài C về việc xin ly hôn anh Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2026/HNGĐ-ST Ngày 30 – 01 – 2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng.
2. Bà Đỗ Mỹ Lil.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 521/2025/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Hoài C, sinh năm 1994; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Địa chỉ: Ấp Lung M, xã Phú M, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1992; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 26/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Địa chỉ: Ấp Lung M, xã Phú M, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân, chị Bùi Hoài C và anh Ngô Văn T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Phú M, huyện P, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống, chị C cho rằng thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng đến năm 2022, giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến cãi vã với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh T nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của chị thì chị cũng không trở về chung sống với anh T. Riêng anh T xác định giữa anh với chị C không có mâu thuẫn gì lớn, do anh ghen tuông nên vợ chồng mới xảy ra cãi vã, hiện anh vẫn còn tình cảm với chị C nên anh không đồng ý ly hôn mà yêu cầu Tòa án hàn gắn, đoàn tụ.
Về con chung, chị Bùi Hoài C và anh Ngô Văn T khai có 02 người con là Ngô Thảo Vi, sinh ngày 16/7/2013 và Ngô Nhã Vi, sinh ngày 19/12/2016. Hiện các con đang chung sống với anh T nên khi ly hôn, chị C giao hai con cho anh T nuôi, không cấp dưỡng nuôi con. Đối với anh T cho rằng trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh đồng ý nhận nuôi hai con và không đặt ra yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con. Riêng các cháu có nguyện vọng được chung sống với anh T khi anh, chị ly hôn.
Về tài sản chung, chị Bùi Hoài C và anh Ngô Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, chị Bùi Hoài C và anh Ngô Văn T khai không có.
Đối với anh Ngô Văn T (bị đơn) tuy đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2013, tại Ủy ban nhân dân xã Phú M, huyện P, tỉnh Cà Mau nay là Ủy ban nhân dân xã Phú M, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số: 22/2013 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét mâu thuẫn thực tế được các đương sự thừa nhận là có thật và cũng xuất phát từ mâu thuẫn nêu trên, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn nên không đồng ý tiếp tục dùy trì mối quan hệ hôn nhân với bị đơn, trường hợp yêu cầu không được chấp nhận nguyên đơn cũng không chung sống cùng bị đơn. Riêng bị đơn có yêu cầu hàn gắn, đoàn tụ nhưng kể từ khi mâu thuẫn xảy ra cho đến ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng và tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đều đó cho thấy bị đơn chưa thật sự mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng vốn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong khi nguyên đơn không đồng ý đoàn tụ.
Hội đồng xét xử nhận thấy trong quan hệ hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình thì mới xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Mặc dù, hôn nhân giữa các đương sự được xác lập trên tinh thần tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật song nguyên đơn hiện không còn tình cảm với bị đơn, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng cũng không mang lại hạnh phúc, không đúng với mục đích tốt đẹp của hôn nhân. Do đó, có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn được chấp nhận.
Về con chung, nguyên đơn tự nguyện giao các con cho bị đơn nuôi và không cấp dưỡng nuôi con, riêng bị đơn cũng đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nêu trên giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của các con nên chấp nhận.
Về tài sản chung, các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung, các đương sự khai không có nên không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Hoài C về việc xin ly hôn anh Ngô Văn T.
- Về con chung là Ngô Thảo Vi, sinh ngày 16/7/2013 và Ngô Nhã Vi, sinh ngày 19/12/2016. Hiện các con đang chung sống với anh Ngô Văn T, nên tiếp tục giao các con cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm chị Bùi Hoài C cấp dưỡng nuôi con.
Chị C có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, chị Bùi Hoài C và anh Ngô Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung, chị Bùi Hoài C và anh Ngô Văn T khai không có, nên không đặt ra xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Bùi Hoài C phải chịu số tiền 300.000 đồng. Ngày 10/12/2025, chị C đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0006192 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - UBND xã Phú M, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |