vanban.org

Bản án 54/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nhật P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nhật P được ly hôn với ông Võ Minh N. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Nhật P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Thị Kim A, sinh ngày 01/01/2012 và Võ Đức A1, sinh ngày 01/5/2013. Hiện bà P đang nuôi hai con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phượng - Nhân"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nhật P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2026/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 02 năm 2026
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước và ông Nguyễn Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nhật P, sinh ngày 19/11/1992;

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Ấp M, xã N, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Võ Minh N, sinh ngày 01/01/1990;

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Ấp T, xã P, tỉnh An Giang.

(Bà P có mặt, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhật P trình bày:

Bà và ông Võ Minh N tự tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P (nay là xã P), tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống với nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ năm 2013 bà và ông N đã sống ly thân cho đến nay. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Thị Kim A, sinh ngày 01/01/2012 và Võ Đức A1, sinh ngày 01/5/2013; hiện con chung đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng cho hai con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

* Đối với bị đơn ông Võ Minh N:

Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đồng thời triệu tập ông N tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa;

Nguyên đơn bà P có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông N vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:

- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, cho bà Nguyễn Thị Nhật P được ly hôn với ông Võ Minh N; về con chung, giao 02 con chung tên Võ Thị Kim A, sinh ngày 01/01/2012 và Võ Đức A1, sinh ngày 01/5/2013 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng; ông N không cấp dưỡng cho hai con chung do bà P không yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung là không có nên không đặt ra xem xét; buộc bà P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ tại xã P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà P, ông N là hôn nhân hợp pháp, ông bà chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P (nay là xã P), tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/5/2013. Trong quá trình chung sống, hôn nhân của ông bà không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay bà P yêu cầu ly hôn với ông N. Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa bà P, ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P, cho bà P được ly hôn với ông N là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Thị Kim A, sinh ngày 01/01/2012 và Võ Đức A1, sinh ngày 01/5/2013; hiện con chung đang sống với bà P. Xét thấy, từ năm 2013 đến nay cháu Kim A, cháu Đức A1 sống chung với bà P, để ổn định cuộc sống cho các cháu và cũng theo nguyện vọng của các cháu muốn được sống chung với bà P; Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Kim A, cháu Đức A1 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Cấp dưỡng cho con: Bà P không yêu cầu ông N cấp dưỡng cho hai con chung; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không có, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà P xác định, bà và ông N không có nợ chung; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nhật P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nhật P được ly hôn với ông Võ Minh N.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Nhật P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Thị Kim A, sinh ngày 01/01/2012 và Võ Đức A1, sinh ngày 01/5/2013. Hiện bà P đang nuôi hai con chung.

Ông Võ Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Nhật P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005325 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – An Giang), bà P đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Nhật P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Võ Minh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ