- Tranh chấp gì? án hình sự — "truy tố bị cáo Nguyễn Quốc A về tội sử dụng tài liệu giải của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2025/HSST Ngày: 18-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thụy Đang Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Hồng Hạnh
2. Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: 1/ Ông Phạm Hoài Hận - Kiểm sát viên
2/ Bà Lâm Thị Trung Thu - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc A, sinh ngày 31 tháng 01 năm 2004; CCCD số: 084204012757. Nơi cư trú: Số 05 đường 1/5, khóm 1, phường 1, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là số 05 đường 1/5 khóm 1, phường Duyên Hải, tỉnh Vĩnh Long); Nơi ở hiện tại: Nhà trọ Dung, đường Phạm Hùng, phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Quốc B (sinh năm 1980) và bà Phan Thị K (sinh năm 1983); Vợ: Không; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/6/2025 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào năm 2022, do có nhu cầu sử dụng giấy phép lái xe hạng A1 nhưng do không có thời gian đi học và thi sát hạch giấy phép lái xe nên Nguyễn Quốc A đã nói với Đỗ Quốc T (không biết địa chỉ cụ thể) là tài xế lái xe ô tô (ở trọ gần nhà A) khi T đến nhà An chơi. T nói có quen người làm giấy phép lái xe và nói A chụp hình giấy căn cước công dân và hình thẻ của A gửi cho T, vài ngày sau T mang giấy phép lái xe hạng A1, số 840220812509, họ tên Nguyễn Quốc A do Sở giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh (cũ) cấp ngày 10/8/2022 đến nhà cho A nhưng không lấy tiền và A đã sử dụng giấy phép lái xe này khi điều khiển xe lưu thông trên đường. Đến ngày 09/01/2025, A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84F1-039.98 đến địa bàn thành phố Cần Thơ (cũ), đoạn đường dân sinh thuộc phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (nay là đường dân sinh thuộc phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ) thì bị tổ tuần tra của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Cần Thơ kiểm tra, phát hiện A điều khiển xe trên đường mà không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển. Khi được yêu cầu xuất trình giấy phép lái xe thì A đã xuất trình giấy phép lái xe hạng A1, số 840220812509, họ tên Nguyễn Quốc A do Sở giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh (cũ) cấp ngày 10/8/2022. Quá trình tạm giữ giấy phép lái xe của A, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Cần Thơ nghi ngờ giấy phép lái xe của A là giả nên đã trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 26/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Giấy phép lái xe số 840220812509, họ tên Nguyễn Quốc A, ngày sinh 31/01/2004 đề ngày 10/8/2022 ký hiệu A là giả.
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV3 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ truy tố Nguyễn Quốc A về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị truy tố bị cáo A về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng là Giấy phép lái xe số 840220812509, họ tên Nguyễn Quốc A, ngày sinh 31/01/2004 đề ngày 10/8/2022 là giả đề nghị lưu hồ sơ theo quy định.
Bị cáo A không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Do có nhu cầu sử dụng giấy phép lái xe hạng A1 nhưng không có thời gian đi học và thi sát hạch giấy phép lái xe nên bị cáo A đã được Đỗ Quốc T (là tài xế lái xe ô tô cho gia đình bị cáo) làm cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 840220812509 họ tên Nguyễn Quốc A do Sở giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh (cũ) cấp ngày 10/8/2022 để sử dụng. Bị cáo A đã trình giấy phép lái xe này cho Tổ tuần tra của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Cần Thơ khi bị cáo lưu thông trên đường thuộc phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (nay là phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ) khi bị kiểm tra. Do nghi ngờ giấy phép lái xe của A là giả nên đã trưng cầu giám định. Theo kết luận giám định, giấy phép lái xe hạng A1, số 840220812509 họ tên Nguyễn Quốc A là giả.
Bị cáo có hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả nhằm đối phó với lực lượng chức năng kiểm tra khi có vi phạm hoặc khi lưu thông xe trên đường. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Cho nên, cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ đúng pháp luật, không oan sai.
Bị cáo đã thành niên, đủ nhận thức và biết rõ việc sử dụng giấy phép lái xe giả là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[3] Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hiện là sinh viên nên khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử có cân nhắc áp dụng hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có thể sửa đổi, được tiếp tục học hành trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nhưng vẫn đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Cho nên mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo cũng phù hợp, có cơ sở để xem xét, chấp nhận.
Đối với giấy phép lái xe hạng A1, số 840220812509 họ tên Nguyễn Quốc A do Sở giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh (cũ) cấp ngày 10/8/2022 được thu giữ là tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên được lưu hồ sơ theo quy định.
[4] Đối với Đỗ Quốc T là người đưa giấy phép lái xe giả cho bị cáo A sử dụng, hiện chưa làm việc được với T nên chưa đủ cơ sở xử lý theo quy định. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, Điều 47, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, năm 2025; Phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TPCT; - VKS cùng cấp; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thụy Đang Phượng |