- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh Ph và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 48, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Hưng.
Ông Hà Văn Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXTST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
1/. Danh P, tên gọi khác: không, sinh ngày 06/7/1998 tại Cần Thơ (Số CCCD: 094098000564, cấp ngày 17/4/2021). Nơi thường trú: số E đường T, Khóm B, Phường S, Thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Danh Phen và bà Danh Thị H; vợ, con: không; tiền án: không; tiền sự: 03 lần (Lần 1: Theo Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 10/8/2023 bị Công an P1, thành phố S (nay là Công an phường S, Thành phố Cần Thơ), xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt; Lần 2: Theo Quyết định số 75/QĐ-TA ngày 22/02/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng; Lần 3: Theo Quyết định số 81/QĐ-TA ngày 13/3/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 21 tháng (về nhân thân: Lần 1: Theo Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 26/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2025 cho đến nay (có mặt).
2/. Lý Thanh T, tên gọi khác: không, sinh ngày 07/10/1994 tại Cần Thơ (Số CCCD: 094094005671, cấp ngày 11/01/2024). Nơi thường trú: số E đường T, Khóm B, Phường S, Thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: L (đã chết) và bà Trần Thị Trung H1; có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/7/2025 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995. Nơi thường trú: số E đường T, Khóm B, Phường S, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 10 năm 2022 Danh P uống rượu cùng với Lý Thanh T trong hẻm gần nhà của P tại số E, đường T, khóm B, phường S, thành phố Cần Thơ. Trong lúc uống rượu thì T nói với P là không ưa Nguyễn Văn T1 vì T1 ra vẽ đàn anh trong xóm, T muốn chém Tèo. Khi đó P nói cũng không ưa T1 vì trước đó vài ngày T1 đánh P, còn rủ P chém tay đôi. Nghe vậy, T rủ P cùng nhau đi chém Tèo thì P đồng ý. Sau khi thống nhất ý chí, P đi vào nhà lấy một cây dao tự chế dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, còn T cũng lấy mang theo 01 cây dao tự chế dài khoảng 80cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, sau đó cùng nhau đi đến nhà của T1 tại số E, đường T, khóm B, phường S, thành phố Cần Thơ tìm T1 để chém, P cầm dao đi trước, còn T cầm dao đi theo phía sau. Khi đến gần nhà của T1, P thấy T1 đang đứng trước nhà, P hỏi T1 hôm trước rủ P chém tay đôi hả, T1 chưa trả lời thì P xông vào nhà, tay phải cầm dao chém từ trên xuống hướng vào người Tèo, T1 đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào cổ tay trái của T1, lúc này T1 bỏ chạy vào khu vực bên trong nhà. Thấy T1 bỏ chạy vào nhà, P cũng quay ra rồi đi bộ về nhà. Còn T do đi phía sau của P, thấy P chém Tèo xong, đi bộ quay về nên T không vào nhà kiếm T1 để chém mà đứng quan sát một lúc rồi đi bộ về nhà. Sau khi bị chém gây thương tích, T được người thân đưa đến Bệnh viện điều trị thương tích.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số: 496/KLTgTHS-PY ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh S, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T1, như sau:
- Các kết quả chính:
+ Vết thương cổ tay trái kích thướt lớn. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 03%.
+ Gãy đầu dưới xương quay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%.
Đứt gân cơ thần kinh trụ trái đoạn cẳng tay; được phẫu thuật khâu nối gân, cơ, thân kinh trụ trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.
+ Đứt động mạch đoạn cẳng tay đã được phẩu thuật khâu nối. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%.
- Kết luận:
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T1 qua giám định trên hồ sơ là 22%.
+ Kết luận khác: Tổn thương cổ tay trái có đặc điểm do vật sắt gây nên.
Về vật chứng vụ án: Đối với cây dao Danh P và Lý Thanh T sử dụng gây thương tích cho Nguyễn Văn T1, sau khi chém Tèo gây thương tích, trên đường về nhà Danh P đã ném bỏ nhưng không nhớ ném bỏ ở khu vực nào nên không tiến hành thu giữ được, còn Lý Thanh T trên đường về nhà cũng ném bỏ cây dao mang theo chém T1 nhưng không nhớ ném bỏ ở khu vực nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng không tiến hành thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 20.000.000 đồng, đến nay Danh P đã bồi thường được số tiền 14.000.000 đồng, bị cáo Lý Thanh T bồi thường được 2.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSKV5 ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ truy tố bị cáo Danh P và Lý Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Danh P, Lý Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Danh P, Lý Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như: Bị cáo Danh P thành khẩn khai báo, bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại Nguyễn Văn T1 số tiền 14.000.000 đồng, là người dân tộc Khmer, có trình độ học vấn thấp theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Lý Thanh T: Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại Nguyễn Văn T1 số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo là người dân tộc Khmer, có trình độ học vấn thấp theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Danh P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Thanh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo Danh P và bị cáo Lý Thanh T bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo Danh P, Lý Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Nguyễn Văn T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do và việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Danh P, Lý Thanh T là công dân Việt Nam, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân các bị cáo không mắc bệnh tâm thần hay bệnh nào khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận: Vào ngày 26/10/2022, các bị cáo đã dùng dao tự chế đến nhà của bị hại T1 để chém bị hại. Bị cáo Danh P đi trước còn bị cáo Lý Thanh T đi sau. Khi đến nhà T1, bị cáo P thấy bị hại T1 đang đứng trước nhà, bị cáo P xông vào nhà, tay phải cầm dao chém từ trên xuống hướng vào người bị hại Tèo, bị hại T1 đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào cổ tay trái gây thương tích, qua giám định là 22%, bị hại T1 bỏ chạy vào nhà, lúc này P quay ra đi bộ về, trên đường đi bị cáo đã ném bỏ cây dao, còn bị cáo T do đi phía sau nên khi thấy bị cáo P chém bị hại xong và đi bộ quay về, nên bị cáo T không vào nhà kiếm T1 để chém mà đứng quan sát một lúc rồi đi bộ về nhà và cũng ném bỏ dao. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẩn nhỏ nhặt bị cáo T đã rủ bị cáo Danh P cùng nhau đi đến nhà của bị hại Nguyễn Văn T1 để chém bị hại T1, bị cáo Danh P dùng 01 cây dao tự chế dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại tay phải cầm dao chém từ trên xuống hướng vào người bị hại Tèo, bị hại T1 đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào cổ tay trái gây thương tích, qua giám định là 22%. Các bị cáo đã thống nhất ý trí, trong đó, bị cáo T có vai trò rủ rê, bị cáo P là người thực hành tích cực, nên hai bị cáo phải cùng nhau chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ và đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (cấu thành tình tiết định tội là dùng hung khí nguy hiểm và có tình chất côn đồ theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ truy tố các bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại (bị cáo P khắc phục 14.000.000 đồng; bị cáo T khắc phục 2.000.000 đồng); các bị cáo là người dân tộc Khmer, trình độ học vấn thấp; trước khi phạm tội bị cáo T có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Theo đó, bị cáo P là người trực tiếp gây thương tích và là người có nhân thân xấu nên cần xử phạt mức hình phạt nghiêm hơn bị cáo T là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 20.000.000 đồng, đến nay Danh P đã bồi thường được số tiền 14.000.000 đồng, bị cáo Lý Thanh T bồi thường được 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng vụ án nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm không giá gạch trên số tiền bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ trình bày quan điểm luận tội, đề nghị mức hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 48, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/. Tuyên bố: Bị cáo Danh P và bị cáo Lý Thanh T, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2/. Xử phạt:
Xử phạt bị cáo Danh P 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 04/9/2025.
Xử phạt bị cáo Lý Thanh T 2 (hai) năm tù. Thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
3/. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Buộc bị cáo Danh P bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T1 số tiền 2.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Lý Thanh T bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T1 số tiền 2.000.000 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4/. Về án phí: Buộc bị cáo Danh P và bị cáo Lý Thanh T, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5/. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Cần Thơ; - VKSND Thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 5 – Cần Thơ; - CQCSĐT - Công an Thành phố Cần Thơ; - CQTHAHS - Công an Thành phố Cần Thơ; - Phòng THA Dân sự Khu vực 5 – Cần Thơ; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu TAND Khu vực 5 – Cần Thơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (dã ký) Nguyễn Trúc Phƣơng |