vanban.org

Bản án 54/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Nh.

Về con chung: giao con chung tên là Nguyễn Lê Ngọc Tr, sinh ngày 06/12/2016 cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trâm tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn Nh do chị Lê Thị M không yêu cầu. Anh Nh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 9 - 2025 “V/v Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Huyền, Ông Cao Thanh Sâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐ-TA ngày 20 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn H Th, xã Th S, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là thôn Thôn H Th, T B Th, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn Đ H, xã T Đ, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là thôn Thôn Đ H, Thành Nhân Hòa, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 01/6/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày:

- Về tình cảm: chị và bị đơn anh Nguyễn Văn Nh kết hôn với nhau vào ngày 11/5/2016 tại UBND xã Th S, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là xã T B Th, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do quan điểm, tính cách luôn trái ngược nhau, thiếu sự tin tưởng chia sẻ lẫn nhau. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng. Vì vậy mà hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nh.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung tên là Nguyễn Lê Ngọc Tr, sinh ngày 06/12/2016. Ngoài ra không ai có con riêng, không ai nuôi con nuôi. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: vợ chồng chị không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Nguyễn Lê Ngọc Tr trình bày: cháu là con mẹ Lê Thị M và bố Nguyễn Văn Nh, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Văn Nh vắng mặt mặc dầu đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận đơn ly hôn của chị Lê Thị M. Buộc chị Lê Thị M và anh Nguyễn Văn Nh chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: giao con chung tên là Nguyễn Lê Ngọc Tr cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con cho anh Nguyễn Văn Nh; Về tài sản chung: chị Lê Thị M và anh Nguyễn Văn Nh không yêu cầu giải quyết nên miễn xét; Về án phí: miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Lê Thị M theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn: bị đơn hiện cư trú tại Thôn Đ H, xã T Đ, huyện A S, tỉnh Nghệ An, nay là Thôn Đ H, xã Nhân Hòa, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Nh đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã T B Th, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét chị Lê Thị M và anh Nguyễn Văn Nh kết hôn với nhau vào ngày ngày 11/5/2016 tại UBND xã Th S, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là xã T B Th, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa chị M và anh Nh là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị M, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính cách luôn trái ngược nhau, thiếu sự tin tưởng chia sẻ lẫn nhau. Vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, chị M và anh Nh đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng.

Xét thấy, giữa chị M và anh Nh mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị M được ly hôn với anh Nh.

Về con chung: chị M và anh Nh có một người con chung là Nguyễn Lê Ngọc Tr, sinh ngày 06/12/2016. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị M vẫn giữ nguyên nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất và tinh thần. Như vậy nguyện vọng của chị M là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con, căn cứ vào lời trình bày của chị M về điều kiện nuôi con thấy rằng: hiện nay chị đang làm công nhân cho công ty điện tử ALMUS TECH có địa chỉ tại Lô G3 khu Công Nghiệp Q V, phường N S, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, thu nhập ổn định với mức trung bình 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng. Mặt khác qua xác minh tại địa phương thấy rằng, hiện nay anh Nh đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt ở địa phương nên việc giao con cho anh Nh nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho con, hơn nữa hiện nay cháu Trâm sống ổn định với chị M, được chị M chăm sóc và nuôi dưỡng đầy đủ, nguyện vọng của cháu Trâm là được ở với chị M. Vì vậy để hài hòa giữa quyền của người cha và người mẹ cũng như để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần cần chấp nhận giao con chung là Nguyễn Lê Ngọc Tr cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nh do chị M không yêu cầu.

Về tài sản chung: do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Lê Thị M theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Nh.

- Về con chung: giao con chung tên là Nguyễn Lê Ngọc Tr, sinh ngày 06/12/2016 cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trâm tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn Nh do chị Lê Thị M không yêu cầu.

Anh Nh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh Nh lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Nh.

Chị M cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí ly hôn cho chị Lê Thị M.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Phan Hồng Lợi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND khu vực 9;

- Phòng THADS khu vực 9;

- UBND xã T B Th, tỉnh Nghệ An;

- Lưu Hồ sơ, VP;

Phan Hồng Lợi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Hồng Lợi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND H. Anh Sơn;

- Chi cục THADS H. Anh Sơn;

- UBND xã Bình Sơn, H. Anh Sơn;

- Lưu Hồ sơ, VP;

Phan Hồng Lợi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Hồng Lợi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND H. Anh Sơn;

- Chi cục THADS H. Anh Sơn;

- UBND xã Mậu Đức, H. Con Cuông;

- Lưu Hồ sơ, VP;

Phan Hồng Lợi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Hồng Lợi

Cỡ chữ