- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị V - Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? luật tố tụng Hình sự,
- Căn cứ chính? Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2024/HS-PT Ngày: 24-01-2024 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
Các thẩm phán: Bà Lê Hải Yến
Ông Nguyễn Xuân T
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm -
Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 979/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 237/2023/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN THỊ V, sinh ngày 05/7/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi
cư trú: Thôn T P, xã M Đ, huyện S S, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị S; có chồng Nguyễn Văn T và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023, có mặt.
Ngoài ra còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng
cáo, kháng nghị:
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 25/6/2023, Nguyễn Đình T, sinh năm 20XX, trú
tại thôn Đ T, xã Đ X, huyện S S, thành phố Hà Nội đi đến nhà Nguyễn Văn T, sinh năm 19XX, trú tại thôn T, xã Đ X, huyện S S, thành phố Hà Nội chơi. Tại đây, Văn T bảo Đình T “lát đi ăn cỗ xong thì đi làm tỷ” (ý Văn T rủ Đình T đi sử dụng ma túy) và rủ thêm 1-2 bạn nữ để đi chơi ma túy cùng, Đình T đồng ý. Sau đó, Đình T sử dụng điện thoại nhắn tin rủ Bùi Thị Tuyết N, sinh ngày 05/9/20XX (15 tuổi 9 tháng 20 ngày), trú tại thôn T, xã T X, huyện S S, thành phố Hà Nội và Nguyễn Kiều Tr, sinh ngày 10/10/20XX (14 tuổi 8 tháng 15 ngày) trú tại thôn T, xã T X, huyện S S, thành phố Hà Nội đi sử dụng ma túy. N và Tr đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn cưới xong, Văn T sử dụng điện thoại của Đình T gọi cho Nguyễn Thị V, sinh năm 19XX, trú tại thôn T P, xã M Đ, huyện S S, thành phố Hà Nội là chủ quán Anna BBQ ở thôn T P, xã M Đ, huyện S S, thành phố Hà Nội bảo “chị để cho em một phòng, lát em qua chơi” (ý T thuê phòng để chơi ma túy), V đồng ý. Đình T gọi điện thoại bảo N thuê taxi qua ngã tư Nội Phật đón T. Khoảng 10 phút sau, N và Tr đi taxi đến ngã tư Nội Phật đón Văn T, Đình T đến quán Anna BBQ. Khi đến quán, Văn T trả tiền thuê xe ô tô taxi rồi cả 4 người đi vào quầy lễ tân ở tầng 1 gặp V, V chỉ dẫn các đối tượng lên phòng 401 ở tầng 4. Đình T bảo V cho mượn dụng cụ sử dụng ma túy, V đồng ý. V chuẩn bị đĩa sứ, thẻ cứng, loa và đèn laze để vào tời chuyển đồ rồi gọi điện cho Đình T qua ứng dụng Zalo nói “ra tời lấy đồ hộ chị”, Đình T “Vg”. Đình T đi ra lấy dụng cụ sử dụng ma túy mang vào phòng 401; còn V đóng cửa, đi ra ngoài quán để cảnh giới. Tại phòng 401, Văn T lấy từ trong túi quần ra 01 gói nilong bên trong có 02 viên ma túy “Kẹo”, Văn T bẻ đôi một viên đưa cho Đinh T và Tr mỗi người nửa viên để sử dụng, Văn T sử dụng 01 viên, N không sử dụng ma túy “Kẹo”. Văn T tiếp tục lấy 02 gói ma túy “Ke” để lên bàn rồi sử dụng 01 gói ma túy “Ke” đổ ra đĩa xứ xào, kẻ thành các đường nhỏ để Văn T, Đình T, N và Tr cùng sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, V điện thoại cho Đình T qua ứng dụng Zalo nói “có nhiều người lạ mặt ở cổng, em cất bỏ đồ đi”; Đình T nói lại với mọi người ở trong phòng. Nghe vậy, Văn T cầm 01 gói ma túy “Ke” vứt qua cửa sổ xuống mái hiên tầng 2. Lúc này, lực lượng Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra hành chính phòng 401 quán Anna BBQ, phát hiện, bắt giữ các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn tiến hành xét nghiệm
nước tiểu, kết quả: Văn T, Đình T, N và Tr dương tính với ma túy loại Ketamine.
* Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ tại phòng 401: 01 đĩa sứ màu trắng có dính tinh thể màu
trắng, 01 thẻ cứng có dính tinh thể màu trắng, 01 ống hút bằng tờ tiền 10.000 đồng có dính tinh thể màu trắng, 01 túi ni lông kích thước 2x2cm có dính tinh thể màu trắng, 01 túi nilong kích thước khoảng 4x6cm, 01 loa, 01 đèn laze.
- Thu giữ tại mái hiên tầng 2: 01 túi nilong kích thước 2x2cm chứa
tinh thể màu trắng.
- Thu giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động kiểu dáng
Iphone.
- Thu giữ của Nguyễn Đình T 01 điện thoại di động kiểu dáng
Iphone màu tím.
- Thu giữ của Nguyễn Thị V 01 điện thoại Iphone màu vàng; 02 đầu
thu camera; 01 dàn máy tính gồm: cây máy tính, màn máy tính, bàn phím.
Tại Kết luận giám định số 4321/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong có khối lượng 0,757
gam là ma túy loại Ketamine;
- 01 đĩa sứ, 01 thẻ cứng, 01 túi nilong kích thước (2x2)cm, 01 túi
nilong kích thước (4x6)cm, 01 ống hút cuốn bằng tờ tiền 10.000 đồng đều dính ma túy loại Ketamine.
Về nguồn gốc số ma túy các đối tượng sử dụng: Ngày 25/6/2023,
Nguyễn Văn T đi đến khu vực thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mua 01 túi ma túy Kẹo có 2 viên, 02 túi ma túy. Ke với giá 2.500.000 đồng của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Quá trình sử dụng, Văn T bỏ ra để mọi người cùng sử dụng, không ai phải đóng góp gì.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 237/2023/HSST ngày 30 tháng 10
năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã quyết định:
- Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị V 07 (bẩy) năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2023 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngoài ra bản án còn xử phạt các bị cáo khác từ 07 năm 06 tháng
đến 08 năm tù, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/11/2023 bị cáo Nguyễn Thị V có đơn kháng cáo xin được
giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng đi làm xa nhà, con còn nhỏ; bố mẹ già yếu, bố chồng là thương binh bị cáo đang phải nuôi dưỡng; bác ruột, ông nội là liệt sĩ; bị cáo bệnh tật, ốm yếu, bị thoái hóa cột sống.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt
nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị V, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, cụ thể: Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V từ 06 năm 06 tháng đến 06 năn 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V đúng về
mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị V tại
phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, bản kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 25/6/2023, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đình T bàn bạc với nhau, rủ Bùi Thị Tuyết N (15 tuổi 9 tháng 20 ngày) và Nguyễn Kiều Tr (14 tuổi 8 tháng 15 ngày) cùng đi sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Đình T liên hệ với Nguyễn Thị V chủ quán Anna BBQ ở thôn T P, xã M Đ, huyện S S, thành phố Hà Nội đặt thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đình T, Bùi Thị Tuyết N và Nguyễn Kiều Tr đến quán Anna BBQ, V chỉ dẫn các đối tượng đi lên phòng 401 và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy để vào thang tời đưa lên cho Nguyễn Đình T để các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị V đã cung cấp địa điểm, các công
cụ, phương tiện để cho các đối tượng tổ chức và sử dụng trái phép chất ma túy là đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Đình T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị V về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác. Tuy nhiên tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự đều có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù là ngang nhau nên cấp phúc thẩm giữ nguyên tội danh đối với bị cáo Nguyễn Thị V song cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V xin giảm nhẹ hình phạt
thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại Nguyễn Văn H là liệt sĩ, có bố chồng Nguyễn Văn M là thương binh, có bác ruột Nguyễn Đình T là liệt sĩ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự song đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 07 năm 03 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; bản thân có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, duy nhất trong gia đình; bố mẹ già, yếu, chồng đi lao động xa nhà, hai con còn nhỏ; bị cáo hiện mắc nhiều bệnh tật. Do vậy nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm hòa nhập với gia đình và xã hội thành công dân có ích cho xã hội.
Trong giai đoạn chuyển bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo
Nguyễn Thị V đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm thay cho bị cáo nên Tòa xác nhận cho bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị V kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận
nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ
luật tố tụng Hình sự,
1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:
- Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2023 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị V đã nộp số tiền 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm (Theo Biên lai thu tiền số 0022204 ngày 02/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội).
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị V không phải nộp án phí hình sự
phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị
cáo khác, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - Chi cục T.H.A huyện Sóc Sơn - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |