- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 7 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Hoàng Điệt;
Ông Sơn Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Châu Thị K; Cư trú tại: Ấp Mỹ T, Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T; Cư trú tại: Ấp Mỹ T, Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Châu Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị K và anh Nguyễn Quốc T tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2000 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T, cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10 tháng 3 năm 2008. Thời gian đầu anh chị chung sống vui vẽ hạnh phúc nhưng thời gian về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh chị không còn chung sống từ tháng 4/2024 cho đến nay.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 02 (Hai) người con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09/3/2001 đã trưởng thành có cuộc sống riêng còn cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/4/2007. Hiện tại đang sống chung với chị K và anh T.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Chị Châu Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
- Về con chung: Chị K yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/4/2007 đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị K không yêu cầu anh Thanh cấp dưỡng nuôi con chung. Còn cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09/3/2001 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn đồng ý giao con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/4/2007 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi.
Tại Biên bản hoà giải ngày 17 tháng 6 năm 2024 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Nguyễn Quốc T trình bày:
Anh T thống nhất với lời trình bày của chị K về quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Châu Thị K yêu cầu ly hôn thì anh T không đồng ý, vì anh T muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị K.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh T và chị K có 02 (Hai) người con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09/3/2001 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/4/2007, anh T không đồng ý giao con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/04/2007 cho chị K chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T yêu cầu giao con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/4/2007 cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không yêu cầu chị Kiều cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09/3/2001 đã trưởng thành, nên anh Thanh thống nhất với chị K là không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T thống nhất với chị K là không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Chị K và anh T chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, anh chị không còn chung sống từ tháng 4/2024 cho đến nay. Về con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09/3/2001 đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên chị Kiều và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết; Còn con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/04/2007 đang sống chung với anh T, tiếp tục giao cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Châu Thị K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại ấp Mỹ T, Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Châu Thị K và anh Nguyễn Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10 tháng 3 năm 2008. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị K có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.
Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn đồng ý giao con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16/4/2007 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận sự thay đổi này của nguyên đơn.
Xét lý do xin ly hôn của chị K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn chị K và anh T chung sống với nhau có 02 người con chung. Tuy nhiên, chị K và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến cãi vã do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng nhiều, mặc dù đã cố hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thay đổi, từ đó làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Tòa án triệu tập chị K và anh T để hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng chị K thì cương quyết xin ly hôn cho thấy chị K không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, còn anh T muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T không đưa ra biện pháp gì để thuyết phục chị K cho vợ chồng về đoàn tụ. Tại phiên tòa anh T trình bày không đồng ý ly hôn nhưng nếu như Tòa án giải quyết cho anh chị phải ly hôn thì anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị K và anh T cũng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị K và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2001 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2007. Xét thấy, con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2001 cháu T đủ 18 (Mười tám) tuổi, có khả năng lao động chị K và anh T thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Còn con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2007 chị Ki đồng ý giao con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2007 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay anh T đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, nên về mặt tình cảm thì cháu T gắn bó và yêu mến anh nhiều hơn chị K. Tòa án có ghi ý kiến cháu T, cháu có nguyện vọng sống chung với anh T, nhằm ổn định cuộc sống cho cháu T về mặt vật chất cũng như tinh thần. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử Quyết định tiếp tục giao con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2007 cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 (Mười tám) tuổi.
Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T có khả năng nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị K và anh T thống nhất là không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phi: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a
́ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị K là người có đơn xin ly hôn, chị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 244; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Châu Thị K và anh Nguyễn Quốc T.
2. Về con chung: Cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2001 đã trưởng thành, có khả năng lao động không yêu cầu nên không xem xét. Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 (Mười tám) tuổi.
- Anh T có khả năng nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
- Chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Châu Thị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003588 ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trinh tự phúc thẩm.
̀
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND Thị trấn Huỳnh Hữu N, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Kiều Oanh |