vanban.org

Bản án 54/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim N. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim N được ly hôn anh Trần Quốc H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Cư trú; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 02 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Ly

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 728/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim N, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số C, tổ B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện tại: Số D N, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Trần Quốc H, sinh năm 1988

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Kim N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu, chị N và anh H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 05/6/2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh H không quan tâm đến gia đình, không chăm lo cho vợ con nên vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên cũng có tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không thành; bản thân chị N và anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh ngày 16/12/2011, hiện nay đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị Bùi Thị Kim N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Mỹ X; không yêu cầu anh Trần Quốc H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Quốc H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Bùi Thị Kim N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2022 thì không còn tiếng nói chung, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm gia đình, không quan tâm vợ con, không có trách nhiệm với vợ con, không phụ giúp tiền bạc với chị N để lo cho gia đình; thường xuyên gây sự đánh nhau với người làm chung trong công ty, chị N có khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi tính tình, ngoài ra, anh H còn có tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị N và anh H nhưng không được; chị N và anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Về quan hệ hôn nhân, chị N yêu cầu được ly hôn với anh H; về con chung, chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh ngày 16/12/2011, hiện nay đang sống với chị N; chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Quốc H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim N. Về quan hệ hôn nhân, chị Bùi Thị Kim N được ly hôn với anh Trần Quốc H. Chị Bùi Thị Kim N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh ngày 16/12/2011; anh Trần Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Theo giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con chung, anh Trần Quốc H có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 20/02/2024, anh Trần Quốc H có cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nhưng thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn xa, khi đi không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được anh Trần Quốc H đi đâu và thời gian trở về. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Trần Quốc H tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chị Bùi Thị Kim N khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Trần Quốc H, yêu cầu được tiếp tục chăm, sóc nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Trần Quốc H (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với anh Trần Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Đồng thời, tại phiên tòa, anh Trần Quốc H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Quốc H.

Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Bùi Thị Kim N cho rằng, chị N và anh H do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn nhân vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 05/6/2012. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm gia đình, không quan tâm vợ con, không có trách nhiệm với vợ con, không phụ giúp tiền bạc với chị N để lo cho gia đình; thường xuyên gây sự đánh nhau với người làm chung trong công ty, chị N có khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi tính tình, ngoài ra, anh H còn có tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; gia đình hai bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị N và anh H nhưng không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu ly hôn với anh H.

Anh Trần Quốc H đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim N.

Xét thấy, chị Bùi Thị Kim N và anh Trần Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Trần Quốc H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị N theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị N và anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Trần Quốc H không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H nên lời trình bày của chị N về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị N yêu cầu ly hôn anh H phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Đối với con chung:

Chị Bùi Thị Kim N xác định chị N và anh H có 01 con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh ngày 16/12/2011, hiện nay đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Mỹ X, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị N và anh H ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị N, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Trần Thị Mỹ X sinh sống với chị N cho đến nay nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng; quá trình sinh sống với chị N, cháu X được đi học và phát triển bình thường, đồng thời, cháu Trần Thị Mỹ X cũng có nguyện vọng được sống với chị N. Để ổn định cuộc sống cho cháu X, giúp cháu X phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị N và anh H ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị Kim N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị N và anh H ly hôn nên anh Trần Quốc H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Bùi Thị Kim N không yêu cầu anh Trần Quốc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Bùi Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim N.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim N được ly hôn anh Trần Quốc H.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 92/2012, quyển số 01/2012, ngày 05/6/2012 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Bùi Thị Kim N và anh Trần Quốc H không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Chị Bùi Thị Kim N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Mỹ X, sinh ngày 16/12/2011. Hiện nay đang sống với chị Bùi Thị Kim N.

Anh Trần Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Bùi Thị Kim N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Quốc H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Kim N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0014271 ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ