- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn L, tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội chiếm đoạt chất ma túy (điều 252 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HSST Ngày 12 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu
Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đoan và ông Hoàng Văn Khảm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hải Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023, đối với:
Bị cáo Phan Văn L, sinh ngày 12/3/1987; sinh trú quán: thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L và bà Lỗ Thị A; vợ Lưu Thị L, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h30’ ngày 09/5/2023, Phan Văn L đang ở nhà thì nhận được điện thoại của bạn nghiện tên B (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) rủ L đi mua heroine về sử dụng, L đồng ý. Khoảng 15 phút sau, B một mình điều khiển xe mô tô loại xe Wave, không rõ biển kiểm soát đến đón L đi mua ma túy. L không có tiền nên hỏi vay B 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để góp tiền cùng B mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma túy, hẹn hôm sau trả, B đồng ý. B điều khiển xe mô tô chở L đến khu vực nhà văn hóa thôn P, xã V, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, B bảo L đứng chờ còn B điều khiển xe đi mua ma túy, khoảng 10 phút sau B quay lại đưa gói ma túy cho L cầm. B điều khiển xe chở L đến khu vực nội đồng thôn P, xã V để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. B điều khiển xe mô tô bỏ trốn. Tang vật thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của L 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột cục màu trắng, L khai nhận là heroine vừa mua để sử dụng, niêm phong ký hiệu A1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 1297/KLGĐ ngày 13/5/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1592g (không phảy một năm chín hai gam, không kể bao bì) loại heroine.
Tại Cáo trạng số: 56/CT-VKSYL ngày 10 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Phan Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phan Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: Phan Văn L từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 09/5/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng và tính án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng, thể hiện như sau: Khoảng 19h00’ ngày 09/5/2023, tại khu vực đường nội đồng thuộc thôn P, xã V, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, bắt quả tang Phan Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Phan Văn L 01 gói giấy bên trong đựng chất bột cục màu trắng, kết luận giám định là ma túy, khối lượng là 0,1592g, loại heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen đã qua sử dụng.
. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: “1. Người nào…, tàng trữ trái phép… chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c. Heroine….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với đối tượng tên B là người rủ và chở L đi mua ban túy, cho L vay tiền, đưa ma túy cho L cầm, do L không biết họ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh làm rõ, không đề cập xử lý.
. Về xử lý vật chứng: 0,0991gam mẫu do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell của Phan Văn L dùng để L lạc với B mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước, đối với thẻ sim cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự, xử phạt: Phan Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 09/5/2023.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,0991gam mẫu heroine do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh hoàn trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói, 01 thẻ sim điện thoại.
Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen đã sử dụng của Phan Văn L.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2023)
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Phan Văn L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Y; - VKSND huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo; - Lưu VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Lưu |