vanban.org

Bản án 54/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 04/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự. Không áp dụng đối với các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét đối với các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Phì C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HSST
Ngày: 04/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải

Các hội thẩm nhân dân

- Ông: Lý Ngọc Sáng.

- Ông: Bùi Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2023/HSST, ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2023 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 08/TB-TA, ngày 24/03/2023, đối với các bị cáo.

- Lỳ Phì C - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam - Sinh năm 2003; Nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: La Hủ; Con ông Lỳ Lò G, sinh năm 1977 và con bà Vàng Gạ X, sinh năm 1983; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/11/2022, tại xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Đến ngày xét xử là ngày 08/03/2023, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, có dấu hiệu bỏ trốn. Ngày 16/03/2023 bị bắt tạm giam theo quyết định của Hội đồng xét xử. Hiện tại đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, từ ngày 16/03/2023 cho đến nay - Có mặt.

- Ly Nhù H - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam - Sinh năm 1988; Nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi ĐKHKTT: Bản Ứ M, xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: La Hủ; Con ông Ly Xa H, sinh năm 1965 và con bà Hoàng My L, sinh năm 1961; vợ Vàng Gió N, sinh năm 1989; con, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/11/2022, tại xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Trong thời gian chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 08/02/2023 có hành vi phạm tội mới “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị tạm giữ, hiện tại đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, cho đến nay - Có mặt.

- Người bị hại: Ông Sùng A H - Sinh năm 1979 - Trú tại: Bản Láng P, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt có lý do.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Pờ Xé C - Sinh năm 1974 - Trú tại: Bản H, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ sáng ngày 16/10/2022, Ly Phì C và Ly Nhù H mượn thuyền của ông Pờ Xé C ở bản H, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C đi xuống khu rừng thuộc địa phận xã B, huyện Mường T để lấy măng đem về bán lấy tiền, khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày sau khi lấy măng xong C và H quay lại chỗ buộc thuyền thì thấy thuyền bị chìm xuống nước, sau khi C và H cùng nhau kéo thuyền lên nhưng máy nổ không được nên C và H dùng đoạn cây nứa chèo thuyền đi về nhà. Khi về đến khu vực bãi vàng thuộc bản Láng P, xã Nậm K, huyện Mường T, C nhìn thấy bên bờ sông có một chiếc máy nổ Cole, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, bình xăng màu trắng có bộ chân vịt gắn kèm, quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi nên C rủ H lấy trộm chiếc máy nổ thì được H đồng ý. Sau khi hai người chèo thuyền vào sát mép bờ sông, C đi đến chỗ máy nổ thì thấy máy nổ được khóa vào gốc cây bằng một dây xích và một ổ khóa, C gọi H cầm dao lên để đập vỡ ổ khóa, sau đó bỏ lại ổ khóa và sợi dây xích rồi C và H khiêng máy nổ xuống lắp vào thuyền và nổ máy đi về bến đò H, xã Nậm K. Khoảng 17 giờ cùng ngày anh Sùng A H phát hiện bị mất chiếc máy nổ nên đã trình báo với Công an xã Nậm K, quá trình xác minh tại bến đò H, Công an xã Nậm K thấy C và H đang chuẩn bị mang chiếc máy nổ đi cất giấu nên đã mời C và H đến trụ sở Công an xã Nậm K để làm việc. Tại trụ sở Công an xã Nậm K, C và H đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc máy nổ như đã nêu trên của anh Sùng A H.

Tại bản kết luận định giá số: 30/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2022 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mường T kết luận:

- 01 đầu máy Cole, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, nắp bình xăng màu trắng, trị giá 3.500.000 đồng.

- 01 bộ chân vịt lái thuyền bằng kim loại trị giá 700.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKS-MT, ngày 16 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố Lỳ Phì C và Ly Nhù H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử.

- Về trách nhiệm hình sự: Đối với Lỳ Phì C và Ly Nhù H về tội danh "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

+. Xử phạt bị cáo: Lỳ Phì C từ: 07 (bảy) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sán”.

+. Xử phạt bị cáo: Ly Nhù H từ: 07 (bảy) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sán”.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, do điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo.

- Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra những người chủ sở hữu hợp pháp tài sản là người bị hại anh Sùng A H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Pờ Xé C đã có đơn xin lại tài sản. Ngày 11/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C đã trả lại: 01 máy nổ Cole, nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, bình xăng màu trắng, có gắn kèm theo chân vịt bằng kim loại cho người bị hại anh Sùng A H. Và 01 chiếc thuyền làm bằng gỗ có chiều dài khoảng 08 mét, chiều rộng 60cm, ở đầu thuyền có buộc dây thừng màu trắng; 01 máy nổ Cole, màu đen, bình xăng màu vàng có lắp giàn cole thẳng, trên cốp máy có ghi 210CC, trên bình xăng có ghi: RATO chữ màu đen đã qua sử dụng cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Pờ Xé C. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại được tài sản của mình, không có ý kiến gì, nên không xem xét. +. Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 47 cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán bằng gỗ dài 17 cm, quá trình điều tra xác định đây là công cụ, mà bị cáo Lỳ Phì C dùng vào việc phạm tội để đập vỡ ổ khóa; 01 sợi dây xích bằng kim loại dài 2,26 m, đường kính một vòng xích nối với nhau là 2,6cm đã qua sử dụng và 01 ổ khóa cơ học ký hiệu “HUYHOANG” dùng đề khóa xuồng và máy nổ, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã xác định đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự cho các bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên Tòa việc các bị cáo khai là hoàn toàn khách quan, đúng sự thật, các bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, nhất trí với bản luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/10/2022, tại khu vực bãi vàng thuộc bản Láng P, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Lỳ Phì C và Ly Nhù H đã cùng nhau trộm cắp 01 máy nổ Cole, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, bình xăng màu trắng có bộ chân vịt bằng kim loại gắn kèm trị giá 4.200.000 đồng của anh Sùng A H để gắn vào thuyền làm phương tiện đi lại. Lỳ Phì C là người khởi xướng và cùng với Ly Nhù H trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội " Trộm cắp tài sản" vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố các bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, các bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật nhà nước ta bảo vệ, làm ảnh hưởng tới trật tự, an ninh và an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Vì vậy xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H, luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho các bị cáo, xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo là dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật hạn chế, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sống ở xã Nậm K và xã P thuộc huyện Mường T, tỉnh Lai C là huyện biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo Lỳ Phì C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học đến lớp 09/12, lớn lên ở nhà và làm nghề trồng trọt, bị cáo không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ vì mục đích tư lợi của mình nên đã cố ý phạm tội.

- Bị cáo Ly Nhù H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà và làm nghề trồng trọt, bị cáo không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ vì mục đích tư lợi của mình nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, xét thấy: Các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H là dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật hạn chế, nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình là hộ nghèo sống ở xã Nậm K và xã P thuộc huyện Mường T, tỉnh Lai C là huyện biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra những người chủ sở hữu hợp pháp tài sản là người bị hại anh Sùng A H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Pờ Xé C đã có đơn xin lại tài sản. Ngày 11/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C đã trả lại: 01 máy nổ Cole, nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, bình xăng màu trắng, có gắn kèm theo chân vịt bằng kim loại cho người bị hại anh Sùng A H. Và 01 chiếc thuyền làm bằng gỗ có chiều dài khoảng 08 mét, chiều rộng 60cm, ở đầu thuyền có buộc dây thừng màu trắng; 01 máy nổ Cole, màu đen, bình xăng màu vàng có lắp giàn cole thẳng, trên cốp máy có ghi 210CC, trên bình xăng có ghi: RATO chữ màu đen đã qua sử dụng cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Pờ Xé C. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại được tài sản của mình, không có ý kiến gì, nên không xem xét. +. Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 47 cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán bằng gỗ dài 17 cm, quá trình điều tra xác định đây là công cụ, mà bị cáo Lỳ Phì C dùng vào việc phạm tội để đập vỡ ổ khóa; 01 sợi dây xích bằng kim loại dài 2,26 m, đường kính một vòng xích nối với nhau là 2,6cm đã qua sử dụng và 01 ổ khóa cơ học ký hiệu “HUYHOANG” dùng đề khóa xuồng và máy nổ, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã xác định đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định của pháp luật.

. Về án phí hình sự, dân sự, xét thấy: Các bị cáo là dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật hạn chế, nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình là hộ nghèo sống ở xã Nậm K và xã P, thuộc huyện Mường T, tỉnh Lai C là huyện biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự cho các bị cáo.

. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy đề nghị của kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Đối với Pờ Xé C là người cho Lỳ Phì C và Ly Nhù H mượn chiếc xuồng gỗ, C không biết C và H sử dụng chiếc thuyền để thực hiện hành vi phạm tội nên không đồng phạm với C và H. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lỳ Phì C: 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/03/2023.

- Căn cứ Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Ly Nhù H:12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 08/02/2023.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự. Không áp dụng đối với các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét đối với các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại dài 47 cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán bằng gỗ dài 17 cm; 01 sợi dây xích bằng kim loại dài 2,26 m, đường kính một vòng xích nối với nhau là 2,6cm đã qua sử dụng và 01 ổ khóa cơ học ký hiệu “HUYHOANG” là vật chứng không còn giá trị sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự cho các bị cáo Lỳ Phì C và Ly Nhù H .

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ