- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội "Vô ý làm chết người" - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội“Vô ý làm chết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 128 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNGNGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HS-ST Ngày: 15-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng
2. Bà Lê Thị Hồng Trinh
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Trạng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 15 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 10/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 24/02/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/HSST-QĐ ngày 11/4/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày: 24/4/1973 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Số 100 đường C, tổ 5, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr và bà Võ Thị Th; có vợ là Lê Thị Thúy L; có 02 con con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1945, cư trú tại: Thôn T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (Chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1968, cư trú tại: Thôn T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
2. Ông Hà Văn N1, sinh năm 1983, cư trú tại: Thôn T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
(Ông M, ông N1 là con của bị hại).
- Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần đầu tư N, địa chỉ trụ sở: đường V, phường X, quận Y, TP. Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá L – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc T1 – Phó Giám đốc Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư V tại QN. Cư trú tại: Chung cư B đường N, phường N, quận C, TP. Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1963. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 23/5/2022, Nguyễn Văn D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 76C-143.16, loại xe xitéc (phun nước) để tưới nước cây xanh trong Khu dân cư 577 thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi tưới cây trên các tuyến đường khác, D điều khiển xe 76C-143.16 đến đường số 2 (đoạn phía Bắc ngã tư giao giữa đường số 2 với đường số 9) của khu dân cư. Tại đoạn đường này D điều khiển xe trên phần đường phía Đông theo hướng từ Nam ra Bắc để ông Nguyễn Văn T2 đứng trên giàn tưới phía sau tưới nước cây xanh trồng trên vỉa hè phía Đông trước nhà bà Phạm Thị N. Sau khi tưới cây xong, do mặt đường số 2 vị trí trước đầu xe ô tô đang trong giai đoạn thi công xây dựng nên D điều khiển xe lùi trên phần đường phía Đông theo hướng từ Bắc vào Nam mục đích đến ngã tư giao giữa đường số 2 và đường số 9, trong khi lùi xe D quan sát qua kính chiếu hậu nhưng không phát hiện thấy bà Phạm Thị N đang dắt bộ xe đạp phía sau xe ô tô, làm cho mặt sau mép bên phải khung kim loại viền biển kiểm soát gắn ở đuôi xe ô tô 76C-143.16 (tạo ra dấu vết trầy tróc kim loại kích thước (0,7x0,5)cm ở mép bên phải khung kim loại viền biển kiểm soát) va chạm với đầu tay lái bên trái xe đạp (tạo ra dấu vết trầy tróc kim loại để lộ ánh kim kích thước (0,5x0,1)cm ở đầu tay lái bên trái xe đạp) khiến cho xe đạp bị ngã nghiêng qua bên phải và bị cụm bánh sau bên trái xe ô tô 76C-143.16 chèn qua bên trái bánh sau xe đạp, làm cho bánh sau, khung sườn tương ứng bánh sau, ba ga sau, chắn bùn bánh sau bị cong vênh biến dạng theo hướng từ trái qua phải; mép bên phải vành bánh sau và đầu trục bên phải bánh sau xe đạp hằn, chà sát với mặt đường tạo ra dấu vết khuyết nhựa đường và dấu vết trầy tróc nhựa đường đứt quãng có dạng hình cung; bà Phạm Thị N bị ngã sấp qua bên phải và bị cụm bánh sau bên trái xe ô tô 76C-143.16 chèn qua cơ thể từ hai chân lên đến mặt sau hai đùi, mông. Sau khi chèn qua nạn nhân Phạm Thị N và xe đạp, xe ô tô 76C-143.16 chuyển động tiến về hướng Bắc một đoạn và dừng lại. Hậu quả, bà Phạm Thị N chết tại chỗ.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 45/TT ngày 02/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi đối với bà Phạm Thị N, kết luận: Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
Tại Kết luận giám định số 493/KLGĐ-PC09, ngày 17/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:
1. Điểm va chạm đầu tiên giữa 2 phương tiện là mặt sau mép bên phải khung kim loại viền biển kiểm soát gắn ở đuôi xe ô tô biển kiểm soát 76C-143.16 (tạo ra dấu vết trầy tróc kim loại kích thước (0,7x0,5)cm ở mép bên phải khung kim loại viền biển kiểm soát), với đầu tay lái bên trái xe đạp (tạo ra dấu vết trầy tróc kim loại để lộ ánh kim kích thước (0,5x0,1)cm ở đầu tay lái bên trái xe đạp).
2. Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô 76C-143.16 với xe đạp do bà Phạm Thị N dắt bên phải cơ thể là khu vực mặt đường phía Bắc hình chiếu tâm đầu trục bánh trước bên phải xe đạp, thuộc phần đường phía Đông đường số 2 khu dân cư 577.
3. Quá trình xảy ra tai nạn, xe đạp bị ngã nghiêng qua bên phải và bị cụm bánh sau bên trái xe ô tô 76C-143.16 chèn qua bên trái bánh sau xe đạp làm cho bánh sau, khung sườn tương ứng bánh sau, ba ga sau, chắn bùn bánh sau…bị cong vênh biến dạng theo hướng từ trái qua phải; mép bên phải vành bánh sau và đầu trục bên phải bánh sau xe đạp hằn, chà sát với mặt đường tạo ra dấu vết khuyết nhựa đường (ký hiệu số 4) và dấu vết trầy tróc nhựa đường đứt quãng có dạng hình cung (ký hiệu số 5); bà Phạm Thị N bị ngã sấp qua bên phải và bị cụm bánh sau bên trái xe ô tô 76C-143.16 chèn qua cơ thể từ hai chân lên đến mặt sau hai đùi, mông. Sau khi chèn qua nạn nhân Phạm Thị N và xe đạp, xe ô tô 76C-143.16 chuyển động tiến về hướng Bắc một đoạn và dừng lại tại vị trí như mô tả trong hiện trường khi khám nghiệm.
Tại Kết luận giám định số 494/KL-KTHS, ngày 03/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:
1. Chất lạ màu nâu đỏ thu ở mặt ngoài phía trong hông lốp và mặt lăn của bánh xe sau phía trong bên trái xe ô tô biển kiểm soát 76C-143.16, đựng trong phong bì được niêm phong, gửi giám định, là máu người thuộc nhóm máu O.
2. Mẫu thu của tử thi Phạm Thị N, sinh năm 1945, cư trú tại: TDP T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, đựng trong phong bì được niêm phong, gửi giám định thuộc nhóm máu O.
Tại Kết luận giám định số 508/KL-KTHS ngày 30/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô tải 76C-143.16 đảm bảo an toàn kỹ thuật theo quy định.
Tại Công văn số 285/CV-CNQN, ngày 27/9/2022 của Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư N tại QN xác định: Đoạn tính từ điểm giao nhau giữa đường số 2 và đường số 9 về phía Bắc đường số 2 đến ngày 23/5/2022 đã hoàn thành hạng mục hạ tầng đường bộ, gồm: Hoàn thành thảm bê tông nhựa mặt đường, hệ thống bó vĩa, vĩa hè, hệ thống thoát nước mặt đường, cây xanh. Các hạng mục hạ tầng đường bộ chưa được cơ quan quản lý Nhà nước thẩm định về an toàn giao thông đường bộ.
Tại Công văn số 1558/SXD-QLN&BĐS, ngày 29/7/2022 của Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi xác định hệ thống hạ tầng trong Khu dân cư Sơn Tịnh do Công ty cổ phần đầu tư N chi nhánh QN làm chủ đầu tư. Hiện nay, hệ thống hạ tầng này đang trong quá trình triển khai thi công xây dựng và chưa được Sở Xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng để đưa vào sử dụng, bàn giao. Vì vậy, việc đưa vào sử dụng các tuyến đường giao thông nội bộ trong khu dân cư do chủ đầu tư quyết định.
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 44 Luật Giao thông đường bộ quy định bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông của công trình đường bộ như sau:
1. Công trình đường bộ xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện an toàn giao thông cho người, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, trong đó có người đi bộ và người khuyết tật. Đường đô thị xây dựng phải có hè phố, phần đường, cầu vượt, hầm và tổ chức giao thông cho người đi bộ, người khuyết tật đi lại an toàn, thuận tiện.
2. Công trình đường bộ phải được thẩm định về an toàn giao thông từ khi lập dự án, thiết kế, thi công, trước và trong quá trình khai thác. Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp thu kết quả thẩm định an toàn giao thông để phê duyệt bổ sung vào dự án.
Như vậy, hệ thống hạ tầng trong Khu dân cư Sơn Tịnh (Khu dân cư 577) do Công ty cổ phần đầu tư N làm chủ đầu tư, đoạn đường số 2 (phía Bắc điểm giao nhau giữa đường số 2 và đường số 9) đang trong quá trình triển khai thi công xây dựng, chưa được Sở Xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình để đưa vào sử dụng bàn giao; đoạn đường tính từ điểm giao nhau đường số 2 với đường số 9 về phía Bắc đường số 2 tại thời điểm xảy ra tai nạn chưa phải là công trình đường bộ.
Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội:“Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D và Công ty cổ phần đầu tư N đã bồi thường chi phí mai táng, chi phí xây dựng mồ mã, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại với tổng số tiền 233.830.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác về mặt dân sự, nên không đề cập đến.
Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng: Bị cáo, những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử, không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét người làm chứng trong quá trình điều tra đã có lời khai, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử.
Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 23/5/2022, Nguyễn Văn D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 76C-143.16, loại xe xitéc (phun nước) để tưới cây xanh tại đoạn phía Bắc ngã tư giao giữa đường số 2 với đường số 9 trong Khu dân cư 577. Sau khi tưới cây xong, bị cáo D điều khiển xe ô tô lùi trên phần đường phía Đông theo hướng từ Bắc vào Nam, do thiếu chú ý quan sát nên bị cáo không phát hiện thấy bà Phạm Thị N đang dắt bộ xe đạp phía sau xe ô tô, dẫn đến phần mặt sau mép bên phải khung kim loại đuôi xe ô tô 76C-143.16 va chạm với đầu tay lái bên trái xe đạp và cụm bánh sau bên trái xe ô tô 76C-143.16 chèn qua cơ thể từ hai chân lên đến mặt sau hai đùi, mông của bà N. Hậu quả làm bà N chết tại chỗ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, hệ thống hạ tầng trong Khu dân cư 577 đang trong quá trình triển khai, thi công, xây dựng và chưa được Sở Xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng để đưa vào sử dụng và bàn giao.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được lùi xe không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn có thể dẫn đến tông chết người, mặc dù bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng do cẩu thả, bị cáo vẫn thực hiện lùi xe, dẫn đến hậu quả làm chết người. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách pháp luật, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng. Do vậy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Công ty cổ phần đầu tư N đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 233.830.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP Quảng Ngãi đã trả lại cho Chi nhánh Công ty Cổ phần đầu tư N tại QN 01 xe ô tô biển kiểm soát 76C-143.16, số máy: ISB1705082276717, số khung: GLHXGS1L4M3031667, loại xe ô tô xitec (phun nước) do Chi nhánh Công ty Cổ phần đầu tư N tại QN đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; trả lại 01 xe đạp màu sơn xám và 01 quần vải màu đỏ đậm của bà Phạm Thị N cho con trai bà N là ông Phạm Văn M; trả lại Giấy phép lái xe hạng C, số 510035006730, Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 16/4/2021 cấp đứng tên Nguyễn Văn D cho bị cáo D là phù hợp quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội“Vô ý làm chết người”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 15/5/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - UBND phường Nghĩa Lộ, TP. Quảng Ngãi; - VKSND thành phố Quảng Ngãi; - CQ cảnh sát điều tra Công an Tp.Quảng Ngãi; - Đội tổng hợp Công an Tp.Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS Công an Tp. Quảng Ngãi; - Chi Cục THADS Tp. Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Quang Hải |