- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K ''Cố ý gây thương tích'' - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Trung H (HG) và Đồng Võ Tấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐK TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HS-ST Ngày: 20-9-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐK, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Tùng – Giáo viên.
2. Bà Nguyễn Thị Trà Giang – Cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên – Thư ký Tòa án nH4 dân huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐK tham gia phiên tòa: Bà Trần Minh Quế – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐK xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trung H (Tên gọi khác: HG), sinh ngày 05/11/2005 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Đi biển; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; có cha là Nguyễn Văn H1 và mẹ là Nguyễn Thị Thùy D; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 03 người con; T án, T sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 29/10/2021, bị Trưởng Công an huyện ĐK xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác;
- Ngày 18/02/2022, bị Trưởng Công an huyện ĐK xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác.
Bị cáo được tại ngoại từ đầu tại nơi cư trú. “Có mặt”
Người đại diện hợp pháp của bị cáo H5: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1981 (Là cha, mẹ ruột của bị cáo); cùng địa chỉ: Khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Ông H1 vắng mặt; bà D có mặt''
2. Đồng Võ Tấn K, sinh ngày 06/10/2005 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; hộ khẩu thường trú: Tổ X, ấp BB, xã BD, huyện XS, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi ở: Khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Đi biển; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; có cha là Võ Tấn L1 và mẹ là Đồng Thị Như N1; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 03 người con; T án, T sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 29/10/2021, bị Trưởng Công an huyện ĐK xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác;
- Ngày 18/02/2022, bị Trưởng Công an huyện ĐK xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác;
- Ngày 31/7/2023, bị Trưởng Công an huyện ĐK xử phạt vi phạm hành chính số T 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Bị cáo bị bắt ngày 22/5/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐK. “Có mặt”
Người đại diện hợp pháp của bị cáo K: Bà Đồng Thị Như N1, sinh năm 1987 (Là mẹ ruột của bị cáo); địa chỉ: Tổ xx, Ấp X, xã XTT, huyện HC, Thành phố Hồ Chí Minh. ''Có mặt''
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K là: Bà Lê Thị Thúy – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Có mặt''
Bị hại:
1. Chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: XXX, khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi ở: Khu phố HD, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Có đơn xin vắng mặt''
2. Anh Trần Hạo N, sinh ngày 14/12/2004; địa chỉ: 2Ô1/13, khu phố HM, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
''Có đơn xin vắng mặt''
3. Cháu Phạm Kim T, sinh ngày 05/02/2009; địa chỉ: Khu phố HM, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Kim T: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1983 (Mẹ ruột cháu T); địa chỉ: Khu phố HM, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Có đơn xin vắng mặt''
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Phạm Kim T: Bà Hồ Thị Hoa – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Có mặt''
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị C, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố HA, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Có đơn xin vắng mặt''
Người làm chứng:
1. Anh Hồ Hữu L2, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu phố HD, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Vắng mặt''
2. Anh Đặng Văn H3, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố HA, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. ''Vắng mặt''
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 05/01/2023, Nguyễn Thị Thanh N3 đến nhà Nguyễn Hân H4 ở khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chơi. Tại đây, N3 kể cho H4 nghe việc N3 bị Phạm Kim T nói xấu N3 trên mạng xã hội nên N3 và H4 gọi điện thoại hẹn gặp T để nói chuyện. T đồng ý, đồng thời điện thoại cho chị họ là Phạm Thị Mỹ L để rủ L đi cùng, lúc này L đang đi chung với chồng là Hồ Hữu L2 và bạn của vợ chồng L là H3 nên L nói L2 và H3 cùng đi. Khi L, L2 và H3 đến thì gặp T và Trần Hạo N (anh của T) đang đi ra, L hỏi T về nguyên nhân mâu thuẫn rồi L lấy điện thoại ra gọi cho H4. Trong lúc H4 và L đang nói chuyện qua điện thoại thì xảy ra cãi nhau, lúc này Đồng Võ Tấn K (là bạn đang ở cùng nhà với H4) đứng gần đó cầm lấy điện thoại của H4 rồi chửi L, cùng lúc này Nguyễn Trung H giật điện thoại từ K để nói chuyện với L thì nghe L chửi “im đi thằng đàn bà”. Lúc này, L2 đang đứng kế bên L cũng chửi theo vào điện thoại “im đi thằng đàn bà”. Do bực tức nên H5 hẹn nhóm của L đến gần quán nước Kim Kê thuộc khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gặp để nói chuyện.
Sau khi hẹn nhóm của L, H5 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Tấn L2 (tên thường gọi là Say) nói “con H4 có chuyện rồi, xuống giúp anh cái”, L2 trả lời “dạ, đợi em xíu em chạy vô”, rồi H5 gọi điện thoại cho Trần Gia B nói “cho anh mượn 01 cây kiếm”, B trả lời là “ok, đợi xíu”. Gọi xong H5 đi ra trước sân lấy 01 con dao bầu dài khoảng 30cm rồi cùng K, H4 với N3 đi bộ ra điểm hẹn.
Nghe xong điện thoại của H5, L2 điện thoại cho Nguyễn Văn P (tên thường gọi là Bo) kêu P chạy xe đến chở L2 xuống nhà giúp H5 thì P đồng ý, L2 ra trước sân nhà lấy 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm (còn gọi là cây phảng, gồm có 02 đoạn: 01 đoạn cán dài 47 cm, 01 đoạn lưỡi dài 45,5 cm) cầm đi ra ngoài đường chờ P, còn P tiếp tục gọi điện thoại cho Dương Quốc L3 (còn gọi là Tigôn) rủ đi cùng để hỗ trợ cả nhóm, L3 đồng ý. P điều khiển xe đạp điện chở theo L3 đến đón L2, cả ba đi đến gần nhà H5 thì gặp B chạy xe máy cầm theo 01 cây kiếm (có vỏ gỗ màu trắng dài 35cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 30 cm, cán dài 15 cm có buộc dây vải màu trắng), B nhờ L2 đưa cây kiếm này cho H5 rồi B chạy về. Đến nơi, P để xe ở nhà H5 rồi cả 03 đi bộ ra gần quán Kim Kê thì gặp nhóm của H5, L2 giấu 01 cây dao tự chế dài 92,5cm ở một góc tối gần đó, còn cây kiếm L2 giấu vào bên trong áo khoác để dọc theo tay phải, H5 cũng giấu 01 con dao bầu dài khoảng 30cm gần đó.
Khoảng 10 phút sau, nhóm của T gồm T, L2, H3, L và N chạy đến khu vực gần quán Kim Kê gặp nhóm của H5 gồm H5, K, L2, P, L3, H4 và N3. H4, N3 đến nói chuyện với L và T, những người còn lại đứng xung quanh. Nói chuyện được 10 phút, N3 đồng ý lời xin lỗi của T nên L kêu T lên xe đi về. Lúc này, H5 chạy đi lấy con dao bầu giấu sau lưng rồi đi đến hỏi L2 “nảy thằng nào chửi em trên điện thoại”, do sợ nên L2 nói là “chắc người em ở nhà chửi”, H5 tiếp tục hỏi lớn “hồi nảy thằng nào chửi tao thằng đàn bà?”, cùng lúc này K nói lớn “lấy đồ chơi tụi nó”. H5 nghĩ N là người đã chửi mình nên H5 lấy con dao bầu giấu sẵn sau lưng ra, cầm bằng tay phải chém 01 nhát trúng vào tay trái của N, L2 lấy cây kiếm giấu trong tay áo ra chém 01 nhát trúng vào tay trái của N, K chạy vào lấy 01 cây dao tự chế dài 92,5cm (do L2 giấu trước đó) ra để chém người bên nhóm L thì bị H4 ôm kéo K vào trong hẻm. Nhìn thấy N bị chém, T chạy đến dùng tay trái đỡ cho N thì bị L2 dùng kiếm chém 01 nhát trúng vào tay trái của T, L cũng chạy đến dùng tay trái đỡ cho N thì bị H5 cầm dao chém 01 nhát trúng vào tay trái của L, tiếp đó L3 nhặt 01 cái mũ bảo hiểm gần đó đánh 01 cái trúng vào mặt của N, thấy N bị đánh nhiều nên L kêu N chạy đi, khi N quay lưng bỏ chạy thì bị H5 chém tiếp 01 nhát trúng vào vùng sau lưng, H5 và L2 chạy bộ đuổi theo N khoảng 100 mét thì không đuổi nữa. Trên đường về, H5 đã quăng con dao bầu vào khu vực bụi rậm bên đường rồi cùng L2 đi về nhà của H5, P lấy xe đạp điện chở L2 mang cây kiếm đi giấu ở khu vực bờ kè biển Phước Hải, rồi P chở L3 và L2 đi về, trên tay L2 01 cầm cây dao tự chế dài 92,5cm. Còn N, T và L được người dân đưa đi bệnh viện Bà Rịa cấp cứu. Đến ngày 09/01/2023, L, N và T đã làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan Công an.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK, Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của L2, P, L3, Bình và phù hợp với lời khai của các bị hại, người liên quan và người làm chứng.
Trong quá trình điều tra Đồng Võ Tấn K bị áp dụng Lnh cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng K tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK thay đổi biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam đối với K.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 33/TgT ngày 14/02/2023 của Trung tâm giám định pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Trần Hạo N là 05%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 34/TgT ngày 14/02/2023 của Trung tâm giám định pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Phạm Thị Mỹ L là 04%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 37/TgT ngày 14/02/2023 của Trung tâm giám định pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Phạm Kim T là 22%.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 cây kiếm (có vỏ gỗ màu trắng dài 35cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 30cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi kiếm là 2,5cm, cán dài 15cm có buộc dây vải màu trắng) và 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm (còn gọi là cây phảng, trong đó cán dài 47cm, lưỡi dài 45,5cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi cây phảng 05cm).
Đối với 01 con dao bầu dài khoảng 30cm, sau khi gây án H5 đã quăng bỏ trên đường đi về nhà, Công an đã tiến hành truy tìm con dao bầu dài khoảng 30cm nhưng không thu giữ được. Khi được mời lên làm việc H5 đã giao nộp cho Công an 01 con dao khác dài 37cm (lưỡi bằng kim loại dài 25cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi dao là 6cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 12cm).
Sau khi gây án, xe đạp điện P sử dụng chở L2 và L3 đi đánh nhau mẹ P đã bán cho người khác; điện thoại các đối tượng sử dụng liên lạc rủ đi đánh nhau, trong quá trình các đối tượng sử dụng đã bị hư hỏng và bị mất khi đi biển nên Công an không thu giữ được.
Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người liên quan đã bồi thường cho Phạm Thị Mỹ L số T 15.000.000 đồng, bồi thường cho Trần Hạo N và Phạm Kim T số T 40.000.000 đồng, tổng cộng là 55.000.000 đồng (trong đó Nguyễn Trung H góp 15.000.000 đồng; Đồng Võ Tấn K góp 10.000.000 đồng và bà Lê Thị C là mẹ của Nguyễn Thị Thanh N3 góp 30.000.000 đồng). Các bị hại đã nhận T bồi thường, không yêu cầu gì thêm trong vụ án và đã viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Xử lý vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK đã chuyển 01 cây kiếm (có vỏ gỗ màu trắng dài 35cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 30cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi kiếm là 2,5cm, cán dài 15cm có buộc dây vải màu trắng); 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm (còn gọi là cây phảng, trong đó cán dài 47cm, lưỡi dài 45,5cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi cây phảng 05cm) và 01 con dao dài 37cm (lưỡi bằng kim loại dài 25cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi dao là 6cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 12cm) đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐK để lưu giữ chờ xử lý.
Bản Cáo trạng số 52/CT-VKSĐĐ ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐK truy tố Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đã phân tích hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra cũng như đặc điểm nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90, Điều 91và Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Trung H mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt Đồng Võ Tấn K mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy công cụ liên quan tới tội phạm, gồm: 01 cây kiếm (có vỏ gỗ màu trắng dài 35cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 30cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi kiếm là 2,5cm, cán dài 15cm có buộc dây vải màu trắng); 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm (còn gọi là cây phảng, trong đó cán dài 47cm, lưỡi dài 45,5cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi cây phảng 05cm) và 01 con dao dài 37cm (lưỡi bằng kim loại dài 25cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi dao là 6cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 12cm).
Đối với Nguyễn Thị Thanh N3, sinh ngày 27/02/2009 (13 tuổi 09 tháng 09 ngày) và Nguyễn Hân H4, sinh ngày 07/6/2008 (14 tuổi 06 tháng 29 ngày) chưa đủ 16 tuổi và mục đích hẹn gặp Phạm Kim T để hòa giải nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK không xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn P, sinh ngày 13/7/2008 (14 tuổi 05 tháng 23 ngày), Dương Quốc L3, sinh ngày 12/8/2007 (15 tuổi 04 tháng 24 ngày), Trần Gia B, sinh ngày 11/5/2008 (14 tuổi 07 tháng 25 ngày) và Nguyễn Văn Tấn L2, sinh ngày 30/8/2007 (15 tuổi 04 tháng 06 ngày). Tại thời điểm xảy ra sự việc những người trên dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây ra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại địa phương. Ngày 24/4/2023, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn PK, huyện ĐK đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng hình thức giáo dục tại thị trấn đối với P, L3, Bình và L2 trong thời gian 06 tháng.
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K là bà Lê Thị Thúy trình bày lời bào chữa cho các bị cáo như sau:
Bà Thúy đồng ý với tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với các bị cáo như luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc. Bởi các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế; xét về hoàn cảnh thì các bị cáo đều sinh ra trong gia đình lao động nghèo, không được học hành đến nơi đến chốn; K có hoàn cảnh đặc biệt, bản thân bị cáo đã nhiều năm không sống cùng gia đình và phải tự lao động để kiếm sống; các bị cáo đều thiếu sự quản lý, giáo dục của gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, cụ thể đối với bị cáo H5 với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và bị cáo K mức án từa 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là phù hợp.
Các bị cáo H5, K và người đại diện của các bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung ý kiến gì thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Phạm Kim T là bà Hồ Thị Hoa trình bày:
Bà Hoa thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng như truy tố của Viện kiểm sát. Về hình phạt, thấy rằng các bị cáo không có mâu thuẫn với các bị hại nhưng đã dùng dao chém các bị hại thương tích thể hiện tính côn đồ, trong đó có bị hại T là người dưới 16 tuổi, ngoài ra các bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác. Đề nghị Hội đồng xét xử có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo.
Bị cáo H5 nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc làm sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo K nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất ăn năn về việc làm sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐK, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐK, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị cáo, bị hại, đại diện bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tình tiết vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận:
Do Nguyễn Trung H bực tức câu nói của Phạm Thị Mỹ L nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, H5 rủ Đồng Võ Tấn K, Nguyễn Văn Tấn L2, Nguyễn Văn P và Dương Quốc L3 chuẩn bị hung khí gồm 01 cây kiếm dài khoảng 45cm; 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm và 01 con dao bầu dài khoảng 30cm hẹn gặp nhóm của L gồm L, Phạm Kim T, Trần Hạo N, Hồ H3 L2 và H3 tại khu phố PC, thị trấn PK, huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tại đây H5 dùng dao bầu chém một nhát vào tay trái, một nhát vào lưng N, chém một nhát vào tay trái L; L2 dùng kiếm chém một nhát vào tay trái của N và chém 01 nhát vào tay trái của T; L3 dùng mũ bảo hiểm đập một cái vào mặt của N; K cầm dao tự chế lao vào để chém người bên nhóm L nhưng bị ngăn cản chưa thực hiện được. Theo kết quả giám định N bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%; L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% và T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22%.
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
c) Đối với người dưới 16 tuổi;
i) Có tính chất côn đồ.”
Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K không có mâu thuẫn với các bị hại nhưng đã dùng dao lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Phạm Kim T 22% (T là người dưới 16 tuổi), Phạm Thị Mỹ L 04% và Trần Hạo N 05%. Do đó, hành vi của Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại thời điểm xảy ra vụ việc thì Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Tấn L2, Dương Quốc L3 (người tham gia cùng H5) và Trần Gia B (người cho mượn kiếm) đều dưới 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nêu trên, do đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
[3]. Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐK truy tố Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[4]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã thể hiện thái độ hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, sẵn sàng dùng hung khí nguy hiểm (Dao) gây thương tích cho người khác khi không vừa ý với mình. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, do đó đối với các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và được các bị hại, người đại diện bị hại làm đơn bãi nại nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5]. Về đồng phạm và hình phạt: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó H5 là người khởi xướng và trực tiếp gây thương tích cho các bị hại nên giữ vai trò chính; K là đồng phạm giúp sức nên H5 phải chịu hình phạt cao hơn K. Tuy nhiên, các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi nên cần xem xét hình phạt phù hợp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị không xem xét trách nhiệm dân sự trong vụ án do đã giải quyết xong là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cây kiếm (có vỏ gỗ màu trắng dài 35cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 30cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi kiếm là 2,5cm, cán dài 15cm có buộc dây vải màu trắng); 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm (còn gọi là cây phảng, có cán dài 47cm, lưỡi dài 45,5cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi cây phảng 05cm) và 01 con dao dài 37cm (lưỡi bằng kim loại dài 25cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi dao là 6cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 12cm) là công cụ sử dụng phạm tội, liên quan đến tội phạm, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8]. Đối với Nguyễn Thị Thanh N3, sinh ngày 27/02/2009 (13 tuổi 09 tháng 09 ngày) và Nguyễn Hân H4, sinh ngày 07/6/2008 (14 tuổi 06 tháng 29 ngày) chưa đủ 16 tuổi và mục đích gặp Phạm Kim T để hòa giải nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK không xem xét trách nhiệm hình sự.
[9]. Đối với Nguyễn Văn P, sinh ngày 13/7/2008 (14 tuổi 05 tháng 23 ngày), Dương Quốc L3, sinh ngày 12/8/2007 (15 tuổi 04 tháng 24 ngày), Nguyễn Văn Tấn L2, sinh ngày 30/8/2007 (15 tuổi 04 tháng 06 ngày) là những người cùng Nguyễn Trung H tham gia gây thương tích cho các bị hại và Trần Gia B, sinh ngày 11/5/2008 (14 tuổi 07 tháng 25 ngày) là người cho Nguyễn Trung H mượn kiếm. Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm thì những người trên dưới 16 tuổi nên hành vi gây thương tích cho người khác chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích'', do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐK đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại địa phương đối với những người trên là phù hợp.
[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Nguyễn Trung H (HG) và Đồng Võ Tấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Trung H (HG): 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Đồng Võ Tấn K: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây kiếm (có vỏ gỗ màu trắng dài 35cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 30cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi kiếm là 2,5cm, cán dài 15cm có buộc dây vải màu trắng); 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại dài 92,5cm (còn gọi là cây phảng, có cán dài 47cm, lưỡi dài 45,5cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi cây phảng 05cm) và 01 (Một) con dao dài 37cm (lưỡi bằng kim loại dài 25cm, bề rộng trung bình chính giữa lưỡi dao là 6cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 12cm).
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐK đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 50/BB ngày 17 tháng 8 năm 2023 giữa Công an huyện ĐK và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐK, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Buộc Nguyễn Trung H và Đồng Võ Tấn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp L để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - VKSND huyện ĐK; - Công an huyện ĐK; - Chi cục THADS huyện ĐK; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Duy |