vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 22/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Sành G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Sành G 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/8/2023. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Sành G - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Sành G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LẠC
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày: 22- 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nông Văn Tôn

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Dương Viết Lưu;

2/ Ông Đặng Văn Ẩy;

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/ QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Triệu Sành G, sinh ngày 23/12/2002. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: không nghề; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Quầy M và bà Đặng Mùi P; Vợ con: chưa có;

Tiền án: có 01 tiền án tại bản án số 09 ngày 08/4/2022 của Tòa án nhân

dân huyện Bảo Lạc, Cao Bằng, xử phạt 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Cao Bằng từ ngày 31/8/2023 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Dạ T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Có mặt

* Người Bị hại: Phùng Văn K, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Sành Q, sinh ngày 01/5/2009; hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Người đại diện là ông Triệu Quầy M (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

- Ông Đặng Vần P1, sinh năm 1994; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt

- Ông Đặng Vần L (tên gọi khác: Đặng Tòn L1), sinh năm 1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ, ngày 30/8/2023 Triệu Sành G mượn xe máy biển kiểm soát của em trai là Triệu Sành Q, một mình điều khiển đi đến xóm B, H, Bảo L2. Khi đi đến đoạn đường gần nhà ông Phùng Văn K, thì này sinh ý định vào nhà ông K để trộm cắp tài sản, G dừng xe máy rồi cất xe vào chỗ đường khuất tầm nhìn, sau đó đi vòng qua đằng sau nhà ông K, G dùng tay cậy tấm ván ở vách sau ngôi nhà rồi đột nhập vào bên trong, thấy một chiếc ắc quy để trên bàn uống nước, G lấy trộm chiếc bình ắc quy rồi tẩu thoát theo lối đã đột nhập, cho bình ắc quy lên xe máy sau đó điều khiển xe đi đến nhà ông Đặng Vần L (trú tại: Bản C, Đ, B. Giồng cất bình ắc quy tại nhà của L rồi xin ngủ nhờ qua đêm, đến khoảng 07 giờ ngày 31/8/2023 G mang chiếc bình ắc quy đi đến nhà của Đặng Vần P1 trú tại Bản Ỏ, Đ, B và để nhờ chiếc bình ắc quy chờ đem đi bán. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, G gặp ông K trên đường, K hỏi thì G thừa nhận được trộm chiếc bình ắc quy, sau đó K đã trình báo sự việc đến Công an huyện B. Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện B đã tiếp nhận tin báo và triệu tập G đến để làm việc, tại Cơ quan điều tra G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời tạm giữ chiếc bình ắc quy là vật chứng của vụ án. Mục đích trộm bình ắc quy của G là bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS, ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B xác định giá trị của chiếc bình ắc quy là: 1.440.000đ (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng chẵn).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bản thân sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy, để có tiền mua ma túy về sử dụng bị cáo đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của ông Phùng Văn K và trộm 01 chiếc bình ắc quy có giá trị là 1.440.000đ (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng chẵn). Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Sành G phạm tội “trộm cắp tài sản”

- Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Sành G từ 09 đến 12 tháng tù.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. * Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tôi nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố là có căn cứ pháp luật; tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các yếu tố sau: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Từ những phân tích trên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 15 giờ ngày 30/8/2023 bị cáo Triệu Sành G một mình thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc bình ắc quy trị giá 1.440.000đ (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng chẵn) của ông Phùng Văn K tại Bản N, H, B, Cao Bằng. Mục đích bị cáo trộm cắp là để bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng và chi tiêu cá nhân. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Triệu Sành G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, được sống trong môi trường xã hội lành mạnh nhưng không tu dư ng, r n luyện đạo đức mà sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do bản thân là con nghiện ma tuý, vì hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo đã có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” tháng 8/2022 vừa chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp bình ắc quy của ông Phùng Văn K, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có. Đối với Triệu Sành Q là người cho bị cáo mượn xe máy, Q không biết việc G dùng chiếc xe máy vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm đối với Q là có căn cứ. Đối với Đặng Vần L và Đặng Văn P2 cho bị cáo gửi nhờ bình ắc quy, cả hai không biết chiếc bình ắc quy là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, do đó không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm đối với L và P2 là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: tài sản bị chiếm đoạt là chiếc bình ắc quy, đã được Cơ quan điều tra xử lý bằng cách trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phùng Văn K, tại đơn xin xét xử vắng mặt ông K không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí theo quy định và đã có đơn xin miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Sành G phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Sành G 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/8/2023.

3. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Toà án.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ