- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Đ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HS-PT Ngày: 20/3/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.
Các Thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 38/2023/HSPT ngày 07/02/2023 đối với bị cáo Lê Thanh Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thanh Đ, sinh năm 1979 tại Sóc Trăng; nơi thường trú: ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Tuyết M; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: tại Bản án số 458/HSPT ngày 25/3/2005, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”, chấp hành xong hình phạt ngày 12/7/2019. Bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2020, đến ngày 31/10/2020 bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Viện pháp y Tâm thần trung ương B từ ngày 31/10/2020 đến ngày 07/9/2022, đến ngày 07/9/2022 tiếp tục bị tạm giam. (có mặt).
Đại diện hợp pháp của bị cáo: ông Lê Thanh M1, sinh năm 1976; trú tại: ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (anh ruột của bị cáo) (vắng mặt).
Người bào chữa: Luật sư Lâm Quốc V, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H bào chữa cho bị cáo Lê Thanh Đ. (có mặt).
Trong vụ án này còn có các anh Nguyễn Lê Việt H, Đào Mạnh Tùng Lê Hồng G, Nguyễn Thanh L là bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có liên quan đến kháng cáo, nhưng xét thấy không cần thiết phải có mặt tại phiên tòa nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/10/2020, Lê Thanh Đ từ Sóc Trăng lên Thành phố Hồ Chí Minh sống lang thang tại khu vực bến xe M. Sáng ngày 03/10/2020, sau khi sử dụng ma túy đá, Điều đi nhờ xe máy của người phụ nữ tên D (không rõ lai lịch) đến khu vực Phường F, quận T tìm nhà người quen tên N để nhờ mài chiếc kéo cắt tóc. Đến trưa cùng ngày, chưa tìm được nhà của N, Điều bị ảo giác, không làm chủ được bản thân do sử dụng ma túy nên đứng tại hẻm B N, Phường F, quận T cầm chiếc kéo bằng kim loại la hét làm mất an ninh trật tự. Người dân sinh sống tại khu vực trên báo tin cho Công an P, quận T thì các anh Lê Hồng G, Đào Mạnh T1, Nguyễn Lê Việt H, Nguyễn Thanh L là Công an P được phân công đến hiện trường giải quyết. Khi Tổ công tác giới thiệu là Công an Phường 6, quận T đứng trước, đối diện yêu cầu Điều xuất trình giấy tờ tùy thân để kiểm tra và giữ im lặng, Điều không chấp hành mà vẫn cầm kéo tiếp tục la hét. Tổ công tác tiến hành khống chế thì Đ cầm kéo bằng tay phải tấn công anh G, anh G lùi lại nên lưỡi kéo Điều đâm không trúng mà đâm trúng vào vai trái của anh H đang đứng bên trái Điều, Điều tiếp tục dùng kéo tấn công anh G. Anh G lùi lại thì bị vấp ngã, Điều tiếp tục dùng kéo tấn công, lúc này anh T1 đang đứng bên phải anh G liền cầm gậy dân phòng đưa lên ngăn cản Điều, Đ cầm kéo bằng tay phải giơ lên đồng thời xoay người sang trái đâm một cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào ngực trái của anh T1 làm chảy nhiều máu. Sau đó, anh G điều khiển xe máy chở Đại úy T1 đi cấp cứu tại bệnh viện T3. Điều cầm kéo bỏ chạy bộ về hướng đường N, khi đến trước nhà số A T, Phường H, quận T thì tự va quẹt vào xe máy của người đi đường té ngã và bị bắt giữ.
Sau khi sự việc xảy ra, anh Đào Mạnh T2 và anh Nguyễn Lê Việt H đã có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê thanh Đ1 về hành vi “cố ý gây thương tích”, không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Tuy nhiên, khi tiến hành hỏi cung bị can thì Đ khai không nhớ được diễn biến sự việc xảy ra và cũng không rõ lý do bị Công an quận T khởi tố, tạm giam.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 925 và 926 ngày 12/10/2020 của Trung tâm P kết luận: Nguyễn Lê Việt H có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%, thương tích do vật có cạnh hoặc vật nhọn tác động, cái kéo như cung cấp gây ra được thương tích này, thương tích không nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Đào Mạnh T2 có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% , thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra, cái kéo như cung cấp gây ra được thương tích này, thương tích không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
Ngày 12/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Lê Thanh Đ.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2026/KLGĐ ngày 26/10/2020 của Trung tâm pháp y Tâm thần khu vực Thành phố H đối với Lê Thanh Đ, kết luận: Về y học: Trước, trong và sau khi gây án cho đến hiện tại đối tượng có rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích, giai đoạn rối loạn loạn thần với tình trạng ảo giác chiếm ưu thế (F15.5 - ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi gây án cho đến hiện tại đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đề nghị: Áp dụng biện pháp điều trị bắt buộc tại B để tình trạng tâm thần của đối tượng ổn định hơn. Việc đánh giá năng lực trách nhiệm hình sự không thuộc thẩm quyền trả lời của giám định viên.
Ngày 29/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can. Ngày 31/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình ra Quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam và Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Lê Thanh Đ.
Đến ngày 25/7/2022, Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B ban hành Bản kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 442/KLBB-VPYTW ngày 25/7/2022 đối với Lê Thanh Đ kết luận: “Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật”.
Ngày 01/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình ra Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Lê Thanh Đ. Ngày 03/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can và bắt bị can để tạm giam đối với Lê Thanh Đ. Ngày 07/9/2022, Lê Thanh Đ tiếp tục bị bắt tạm giam.
Quá trình phục hồi điều tra, bị cáo Lê Thanh Đ khai không nhớ diễn biến sự việc xảy ra.
Vật chứng:
- Thu giữ của Lê Thanh Đ: 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng dài 15cm; 01 bộ quần áo.
- Thu giữ của anh Nguyễn Lê Việt H: 01 bộ quần áo, trên áo có dính máu và có vết rách trên vai trái.
- Thu giữ của anh Đào Mạnh T2: 01 bộ quần áo, trên áo có dính máu và có vết rách trên ngực trái.
Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Lê Việt H và anh Đào Mạnh Tùng không yêu cầu Lê Thanh Đ phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lê Thanh Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 và tội “Cố ý gây thương tích” điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ” và “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm a, k khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh Đ 02 (hai) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Thanh Đ phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03/01/2023, bị cáo Lê Thanh Đ có đơn kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lê Thanh Đ thể hiện trạng thái tinh thần hoàn toàn minh mẫn, bị cáo thừa nhận những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nặng; trước, trong và sau khi gây án bị cáo bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt bị cáo Lê Thanh Đ về các tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 và “Cố ý gây thương tích” điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu thêm được tình tiết nào mới, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Lâm Quốc V trình bày bài bào chữa cho bị cáo Lê Thanh Đ thống nhất về tội danh và điều luật mà cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử đối với bị cáo. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thanh Đ rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội do sử dụng ma tuý dẫn đến bị mất nhận thức và điều khiển hành vi, đến nay bị cáo đã không còn nghiện nữa; gia đình bị cáo neo đơn, cha đã chết, mẹ không biết đang ở đâu, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Bị cáo Lê Thanh Đ đồng ý với bài bào chữa của vị luật sư, không tranh luận gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát không tranh luận và bảo lưu quan điểm như đã trình bày.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Lê Thanh Đ mong muốn được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình, hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân quận T, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lê Thanh Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: ngày 03/10/2020, sau khi sử dụng ma túy đá, Điều bị ảo giác, không làm chủ được bản thân nên đứng tại hẻm B N, Phường F, quận T cầm chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 15cm la hét làm mất an ninh trật tự. Sau khi nhận được tin báo, các anh Lê Hồng G, Đào Mạnh T2, Nguyễn Lê Việt H, Nguyễn Thanh L là Công an P, quận T được phân công đến hiện trường giải quyết. Khi Tổ công tác giới thiệu là Công an Phường 6, quận T yêu cầu Điều xuất trình giấy tờ tùy thân để kiểm tra và giữ im lặng, Điều không chấp hành mà vẫn cầm kéo tiếp tục la hét và cầm kéo bằng tay phải tấn công, chống trả lực lượng Công an đang thi hành công vụ. Bị cáo tiếp tục cầm kéo bằng tay phải đâm 01 nhát vào vai trái gây thương tích cho anh Nguyễn Lê Việt H với tỷ lệ thương tật 01% và đâm một cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào ngực trái gây thương tích cho anh Đào Mạnh Tùng với tỷ lệ 02%. Anh H và anh T2 đã có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.
Mặc dù theo Kết luận giám định pháp y tâm của Trung tâm pháp y Tâm thần khu vực Thành phố H thể hiện: trước, trong và sau khi gây án bị cáo bị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích (ma tuý). Tuy nhiên, Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình do dùng rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Với các hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 và “Cố ý gây thương tích” điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo có 01 tiền án về tội đặc biệt nghiêm trọng chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo mong muốn xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu thêm được tình tiết nào mới. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người thi hành công vụ và hoạt động bình thường của Cơ quan nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên không có cơ sở để giảm nhẹ thêm cho bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh Đ, không chấp nhận quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm a, k khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh Đ 02 (hai) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Thanh Đ phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2020.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Lê Thanh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - VKSND quận Tân Bình; (1) - CC THA quận Tân Bình; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (2) - TAND quận Tân Bình; (2) - Công an quận Tân Bình; (1) - Phòng PV06-CA TP.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Sở tư pháp; (1) - Luật sư; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ (22) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Nguyễn |