vanban.org

Bản án 54/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H, giữ nguyên bản án sơ

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Hổ - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H, giữ nguyên bản án sơ
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-PT
Ngày 23/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Năng

Các Thẩm phán:

Bà Dương Thị Hồng Minh

Ông Nguyễn Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Ông Từ Văn Hoàng Lĩnh- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Đoàn Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo:

Đoàn Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 6 năm 1977 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn Thvà bà Vũ Thị O, đều đã chết; có vợ là Nguyễn Thị Hồng H, đã ly hôn; Có 01 người con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: chưa.

Nhân thân:

- Ngày 20/5/1995 Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của cộng dân” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” tại Bản án số 259, Đoàn Văn H phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 107 BLHS.

- Ngày 18/7/1997: Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 8 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân” và “Gây rối trật tự công cộng” Bản án số 343. Đoàn Văn H chấp hành xong hình phạt tù về địa phương ngày 18/6/2003 và đã thi hành án phí HSST và HSPT vào ngày 26/02/2003 nên đã được xóa án tích.

+ Ngày 15/8/2016: Tại Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 92, Công an phường Hòa Khánh Nam xử phạt số tiền 300.000đồng về hành vi “Gây mất trật tự tại khu dân cư”

Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2021 Đoàn Văn H thấy một bài viết quảng cáo nhận làm giấy phép lái xe trên mạng xã hội Facebook (không rõ tài khoản) nên vào liên hệ với một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) thỏa thuận đặt làm giả 01 giấy phép lái xe hạng A1 với số tiền 1.300.000đồng và Hchụp lại chứng minh nhân dân cùng hình ảnh cá nhân của mình cho người này. Khoảng 3 ngày sau khi gửi thông tin, thông qua dịch vụ chuyển phát và thanh toán tại nhà (không rõ địa chỉ dịch vụ chuyển phát) H nhận được 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số 480216173854 mang tên Đoàn Văn H do Sở GTVT thành phố Đà Nẵng cấp và Hsử dụng khi tham gia giao thông.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/7/2022 Tổ C2- 911 Công an thành phố Đà Nẵng chốt chặn tại trước số nhà 60 Tôn Thất Đạm, P. Xuân Hà, Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng đã kiểm tra phương tiện và tiến hành kiểm tra giấy tờ xe môtô mang biển kiểm soát 92E1-331.25 do Đoàn Văn H điều khiển. Qua kiểm tra, phát hiện trong ví của H 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 480216173854 mang tên Đoàn Văn H do Sở GTVT TP. Đà Nẵng cấp. Do nghi ngờ Giấy phép lái xe giả nên tổ công tác tiến hành tạm giữ Giấy phép lái xe, đồng thời bàn giao cho Công an phường Xuân Hà tiến hành làm việc. Tại Công an phường Xuân Hà, H khai nhận Giấy phép lái xe trên là giả.

Vật chứng tạm giữ:

+ 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 480216173854 ngày 10/01/2021 do Sở GTVT TP. Đà Nẵng cấp tên Đoàn Văn H (Lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

Qua xác minh tại Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng ngày 05/8/2022 xác định: Qua kiểm tra dữ liệu quản lý đến ngày 05/8/2022, Sở Giao thông vận tải Đà Nẵng không cấp giấy phép lái xe hạng A1 cho Đoàn Văn H, sinh ngày 05/6/1977, số CCCD: 048077006291, HKTT: Tổ A, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng.

Theo Kết luận giám định số 90/KLTL-KTHS ngày 15/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Đà Nẵng xác định: Giấy phép lái xe hạng A1, số 480216173854, mang tên Đoàn Văn H, ký hiệu A là giả.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 157/2022/HS-ST ngày 28/12/2022, Tòa án nhân dân quận T, Tp. Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Trong hạn luật định ngày 09 tháng 01 năm 2023, bị cáo Đoàn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung án sơ thẩm xử quá nặng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H thì thấy: Bản án sơ thẩm số 157/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ”, theo khoản 1 Điều 341 BLHS và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo với mức án 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của BLHS là đúng, không oan. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đoàn Văn H đã khai nhận:

Khoảng tháng 6/2021, do bị cáo chưa có giấy phép lái xe môtô theo quy định, nên đã có hành vi cung cấp thông tin cá nhân cho đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) trên mạng xã hội và đã làm giả giấy phép lái xe hạng A1. Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 23/7/2022 tại trước số nhà 60 Tôn Thất Đạm, phường Xuân Hà, quận T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo đang điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát 92E1-331.25 thì bị Tổ C2- 911 Công an thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính phát hiện bị cáo đã sử dụng giấy phép lái xe giả hạng A1, số 480216173854 mang tên Đoàn Văn H do Sở Giao thong vận tải thành phố Đà Nẵng in ngày 10/01/2021.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H xin giảm nhẹ hình phạt, HĐXX nhận thấy: Bị cáo Đoàn Văn H không tuân thủ quy định của nhà nước là cần phải học tập, thi sát hạch để được cơ quan chức năng cấp giấy phép lái xe, mà đã có hành vi tự liên hệ với đối tượng trên mạng xã hội để làm giả con dấu, tài liệu, để có được giấy phép lái xe, nhằm đối phó khi tham gia giao thông là đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính.

Bản án sơ thẩm cũng đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không có tinhg tiết giảm nhẹ nào mới, do đó HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của cấp sơ thẩm, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án

phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H, giữ nguyên bản án sơ

thẩm.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

3.Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Đoàn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ