- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ong Khắc C - Sơn Thị D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung của anh Ông Khắc C và chị Sơn Thị D không phải là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày 19-7-2023 V/v yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Láth
Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ông Khắc C, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, xã H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Chị Sơn Thị D, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, xã H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2023, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 04/7/2023, nguyên đơn anh Ông Khắc C trình bày:
Anh và chị Sơn Thị D tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1999 nhưng cho đến nay chưa có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, anh và chị D chung sống rất hạnh phúc. Nhưng đến năm 2021, anh và chị D phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống, tính cách, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Trong quá trình chung sống, anh và chị D có ba người con chung tên: Ông Thị Mỹ L(giới tính: Nữ), sinh năm 2000, Ông Thị Mỹ D (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/10/2002 và Ông Thị Yến N (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/09/2010.
Nay anh nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ sống chung giữa anh với chị Sơn Thị D không phải là vợ chồng.
- Về con chung: Đối với cháu Ông Thị Mỹ L(giới tính: Nữ), sinh năm 2000 và cháu Ông Thị Mỹ D (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/10/2002 hiện nay đều trên 18 tuổi và có gia đình riêng nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đối với cháu Ông Thị Yến N (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/09/2010 hiện cháu N đang sống chung với chị D nên anh đồng ý giao cháu N cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi cháu N thì anh không phải cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn chị Sơn Thị D đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị D đều vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào đơn khởi kiện, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có địa chỉ tại ấp Đ, xã H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã C thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn, tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con” là đúng với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét đơn yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của anh Ông Khắc C đối với chị Sơn Thị D, về quan hệ hôn nhân: Việc tranh chấp giữa anh C với Chị D là loại kiện hôn nhân và gia đình, anh C và chị D chung sống với nhau từ năm 1999 nhưng cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”; tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...” và tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này;...”. Như vậy, hôn nhân giữa anh Ông Khắc C với chị Sơn Thị D không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về con chung: Đối với cháu Ông Thị Mỹ L (giới tính: Nữ), sinh năm 2000 và cháu Ông Thị Mỹ D (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/10/2002 hiện nay đều trên 18 tuổi và đều đã có gia đình riêng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với cháu Ông Thị Yến N (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/09/2010, Tòa án có đến địa phương để ghi ý kiến, xem xét nguyện vọng của cháu N và được địa phương cung cấp thông tin là cháu N đang sinh sống cùng với chị D trên Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không rõ địa chỉ. Do đó, Tòa án không ghi nhận được nguyện vọng của cháu N. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cháu N đang được chị D chăm sóc nuôi dưỡng, cho nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu N cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi cháu N: do chi Dương không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, giáo dục con chung cho anh C, không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh Ông Khắc C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 8 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung của anh Ông Khắc C và chị Sơn Thị D không phải là quan hệ vợ chồng.
2. Về con chung: Chị Sơn Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: Ông Thị Yến N (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/09/2010 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, giáo dục con cho anh C, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi cháu N: Chị D không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với cháu Ông Thị Mỹ L (giới tính: Nữ), sinh năm 2000 và cháu Ông Thị Mỹ D (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/10/2002 hiện nay đều trên 18 tuổi và đều đã có gia đình riêng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Anh Ông Khắc C phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh C được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006120, ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Như vậy, anh C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị Sơn Thị D không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã C; - Chi cục THADS thị xã C; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST; - Các đương sự; - UBND xã H, TX.C; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Đua |