vanban.org

Bản án 54/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tăng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Kỳ C.

Về con chung: Chị Tăng Thị L và anh Nguyễn Kỳ C có 02 con chung là Nguyễn Bảo Châu A, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Phú A1, sinh ngày 31/7/2016. Sau khi ly hôn, chị Tăng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Bảo Châu A; anh Nguyễn Kỳ C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Phú A1 cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tăng Thị Liên- Nguyễn Kỳ Cầm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tăng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Kỳ C.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09/9/2023
“Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Liễu và bà Ngô Thị Thời.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H, xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý sơ thẩm số 357/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/6/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐST- HNGĐ ngày 11/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tăng Thị L, sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư K, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Thôn Đ, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương; (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Kỳ C, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu dân cư K, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn chị Tăng Thị L thể hiện: Chị và anh Nguyễn Kỳ C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố H vào ngày 03/12/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với mẹ chồng đến năm 2015 thì dọn ra ở riêng. Quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn ngay từ khi chị sinh con thứ nhất vì anh C tự ý lấy tiền của gia đình để chi tiêu cá nhân, sau đó nợ nần. Nay, anh C không thay đổi, tiếp tục vay mượn tiền mà không rõ lý do. Sau mỗi lần mâu thuẫn, chị thường không sống cùng anh C. Tháng 7/2022, chị đã nộp đơn ly hôn đến Toà án. Sau khi được Toà án hoà giải, chị đã rút đơn về sống cùng nhưng sau đó vợ chồng không hoà thuận, bất đồng về kinh tế. Nên từ tháng 4/2023, chị dọn ở chỗ khác, sống ly thân. Trong thời gian không ở cùng, anh C không có ý đoàn tụ mà ghen tuông vô cớ, chửi bới xúc phạm chị. Nay, chị không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với anh C nên đề nghị Toà án cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh C có hai con chung là Nguyễn Bảo Châu A, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Phú A1, sinh ngày 31/7/2016. Hiện các con đang nghỉ hè nên có ngày ở mẹ, có ngày ở với bố. Nếu phải ly hôn thì chị đề nghị Toà án giải quyết cho anh C được nuôi cháu Nguyễn Phú A1, chị nuôi cháu Nguyễn Bảo Châu A. Chị và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện nay, chị là chủ công ty TNHH V, có trụ sở ở E N, phường T, thành phố H, thu nhập bình quân hàng tháng từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Ngoài ra, chị không có thu nhập thêm nào khác.

Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung và nợ riêng, công sức đóng góp chung với gia đình mà để vợ chồng chị tự thoả thuận.

* Theo lời khai của bị đơn anh Nguyễn Kỳ C thể hiện: Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh nợ lần. Còn thu nhập hàng tháng anh vẫn đưa cho chị L đầy đủ và có trách nhiệm với gia đình. Khoản nợ anh sẽ có trách nhiệm trả, không để chị L trả cùng. Vì mâu thuẫn trên nên vợ chồng xảy ra cãi nhau, chị L không tôn trọng anh khi sống cùng. Nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2023 cho đến nay. Anh có quan tâm nhắn tin, gọi điện cho chị L nhưng chị L chặn số điện thoại. Anh vẫn còn tình cảm với chị L, mong chị L tha thứ. Nên anh không đồng ý ly hôn.

Vợ chồng có 02 con chung như chị L trình bày. Nếu vợ chồng ly hôn, anh xin nuôi cả hai cháu, còn không được thì mỗi người nuôi một cháu, anh xin được nuôi cháu Nguyễn Phú A1, còn chị L nuôi cháu Nguyễn Bảo Châu A, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện anh C làm nhân viên kinh doanh của Công ty cổ phần S ở khu công nghiệp N, Hải Dương, thu nhập bình quân hàng tháng là 05 triệu đồng đến 06 triệu đồng/tháng, ngoài ra còn thu nhập làm ngoài về cá giống, lương khoảng 05 triệu đồng/tháng.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, nợ riêng, công sức đóng góp chung: Nếu vợ chồng ly hôn, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Ý kiến của bà Nguyễn Thị M (mẹ đẻ anh C) và bà Phan Thị H (mẹ đẻ chị L) đều trình bày: Chị L và anh C chung sống với nhau và xảy ra mâu thuẫn vì anh C vay tiền chi tiêu nhưng giấu chị L. Khi phát hiện, vợ chồng xảy ra cãi nhau, chị L dọn ra ở riêng nhiều lần. Hai gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Quan điểm của bà H đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Quan điểm của bà M đề nghị Toà án hoà giải cho anh chị đoàn tụ.

* Kết quả xác minh tại khu dân cư K và UBND phường N, thành phố H thể hiện: Chị L và anh C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố H vào ngày 03/12/2012. Hai người sống chung và xảy ra mâu thuẫn nên hiện sống ly thân. Nguyên nhân nghe người dân phản ánh là anh C nợ nần. Nay đề nghị giải quyết việc ly hôn và nuôi con giữa chị L và anh C theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến, quan điểm đã trình bày với Toà án.

- Bị đơn giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn; nếu phải ly hôn thì anh nuôi cháu Nguyễn Phú A1, còn chị L nuôi cháu Nguyễn Bảo Châu A, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu quan điểm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa tiến hành thụ lý, thu thập tài liệu chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuân thủ đúng quy định về trình tự tại phiên tòa sơ thẩm của BLTTDS. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Ý kiến về giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử cho chị Tăng Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Kỳ C. Về con chung, giao cho chị L nuôi cháu Nguyễn Bảo Châu A, anh C nuôi cháu Nguyễn Phú A1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con với bị đơn có nơi cư khu dân cư K, phường N, thành phố H. Nên vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

. Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị L và anh Nguyễn Kỳ C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nên hôn nhân của chị L và anh C là hợp pháp. Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm về kinh tế, anh C vay mượn tiền nhưng không bàn bạc, thông báo với chị L. Sự việc này diễn ra nhiều lần làm tình cảm vợ chồng rạn nứt, mất niềm tin với nhau. Tháng 7/2022, chị L đã làm đơn ly hôn, sau được Toà án hoà giải và chị L đã rút đơn. Ngày 19/8/2022 Toà án nhân dân thành phố Hải Dương đã ra Quyết định số 90/2022/QĐST-HNGĐ đình chỉ giải quyết vụ án. Nay, anh chị lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn khi sống cùng. Việc mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hoà giải và trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cũng hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Xét chị L và anh C mâu thuẫn đã kéo dài, tình nghĩa không còn và không còn khả năng đoàn tụ. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung là Nguyễn Bảo Châu A, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Phú A1, sinh ngày 31/7/2016. Khi giải quyết vụ án, chị L và anh C đều nộp các tài liệu chứng minh về công việc, thu nhập chứng minh điều kiện nuôi con. Nguyện vọng của cháu Nguyễn Bảo Châu A muốn ở với mẹ, cháu Nguyễn Phú A2 muốn với bố, khi bố mẹ ly hôn. Nay, các đương sự đều có yêu cầu được nuôi một con. Vì vậy, cần giao cho chị L nuôi dưỡng con Nguyễn Bảo Châu A, anh C nuôi dưỡng con Nguyễn Phú A1 là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Chị L và anh C đều tự nguyện không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, nợ riêng, công sức đóng góp với hai bên gia đinh, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, quan hệ này Toà án không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tăng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Kỳ C.

2. Về con chung: Chị Tăng Thị L và anh Nguyễn Kỳ C có 02 con chung là Nguyễn Bảo Châu A, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Phú A1, sinh ngày 31/7/2016. Sau khi ly hôn, chị Tăng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Bảo Châu A; anh Nguyễn Kỳ C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Phú A1 cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Chị L và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hai người có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này. 3. Về án phí: Chị Tăng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000210 ngày 07/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H (đã nộp xong). 4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ