- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị U- ông Đoàn Khắc N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị U.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 6 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phùng Thị Khánh Vân
Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Thiên- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị U, sinh năm: 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 7, ấp M, xã P, huyện C, thành phố H.
2. Bị đơn: Ông Đoàn Khắc N, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 - 3 - 2023, bản khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Trần Thị U trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N chung sống với nhau vào tháng 01/2011 nhưng đến ngày 25/11/2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, thành phố H. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai mai mối, ép buộc, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, bà U và ông N sống với nhau đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuận. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống chung không có hạnh phúc. Từ năm 2018 đến nay bà U và ông N sống ly thân, không còn quan hệ về mặt tình cảm lẫn kinh tế. Nay bà U yêu cầu được ly hôn ông Đoàn Khắc N;
- Về con chung: Bà U và ông N có 01 con chung là Đoàn Trần Như Q, sinh ngày: 30/10/2011, con chung đang sống cùng bà U. Bà U yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi cháu Quỳnh.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà U và ông N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Đoàn Khắc N, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng là thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa để ông N tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông N đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Bà Trần Thị U tuân thủ các quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS; ông Đoàn Khắc N không tuân thủ các quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Bà U có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ, ông N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bà U và ông N.
Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị U được ly hôn với ông Đoàn Khắc N;
+ Về con chung, bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N có 01 con chung là Đoàn Trần Như Q, sinh ngày: 30/10/2011, con chung đang sống cùng bà U. Giao con chung cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con;
+ Về tài sản chung và nợ chung, bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị U chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đoàn Khắc N không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Trần Thị U có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ, ông Đoàn Khắc N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà U, ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định được quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con chung; bị đơn cư trú tại huyện Xuyên Mộc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N đăng ký kết hôn vào ngày 25/11/2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, thành phố H, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông N là hợp pháp.
Quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn theo bà U do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cải vã nhau nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ đầu năm 2017 đến nay bà U và ông N sống ly thân, không còn quan hệ về mặt tình cảm lẫn kinh tế. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà U yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Khắc N.
Qua xác minh, chính quyền địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà U và ông N vì khi xảy ra mâu thuẫn không ai trình báo.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà U và ông N là có thật, trong quá trình sống chung đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay không quan tâm đến nhau. Trong quá trình làm việc, ông N đều vắng mặt không có lý do nên không trình bày được ý kiến và không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị U đối với ông Đoàn Khắc N.
- Về con chung: Bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N có 01 con chung là Đoàn Trần Như Q, sinh ngày: 30/10/2011. Bà U yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Quỳnh đang sống cùng bà U tại huyện C, thành phố H; bà U có nơi ở, công việc, thu nhập ổn định. Theo nguyện vọng của cháu Quỳnh muốn sống cùng bà U. Do vậy cần giao con chung cháu Quỳnh cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà U không có yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Trần Thị U phải chịu án phí HNGĐ-ST không có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị U.
Bà Trần Thị U được ly hôn với ông Đoàn Khắc N.
2. Về con chung: Bà Trần Thị U và ông Đoàn Khắc N có 01 con chung là Đoàn Trần Như Q, sinh ngày: 30/10/2011.
Giao con chung cháu Đoàn Trần Như Q, sinh ngày: 30/10/2011 cho bà Trần Thị U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Đoàn Khắc N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Trần Thị U phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà U đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011770 ngày 30/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Bà U đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ, Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bành Thị Thu Hà |