vanban.org

Bản án 54/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mỹ L:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Đức H. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Nguyễn Phúc T, sinh ngày 22/07/2019 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 19/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mỹ L - Nguyễn Đức H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mỹ L:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 04 - 2023.
V/v: “T/c ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Ngọc Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Kiều – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 1012/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 04 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1994. HKTT và cư trú tại: Đường QT 19, ấp QB, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1990. HKTT và cư trú tại: Đường QT 19, ấp QB, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

(Chị L đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2022 và trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L trình bày:

Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Đức H tự nguyện chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã BM, huyện TB, tỉnh Đồng Nai vào năm 2018.

Trong cuộc sống vợ chồng, chị và anh H bất đồng quan điểm sống dẫn tới thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, không quan tâm chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Anh Nguyễn Đức H nhiều lần nghi ngờ ghen tuông vô cớ, xúc phạm chị và nhiều lần chủ động đòi ly hôn với chị mặc dù chị L đang mang thai. Anh H cũng không đưa tiền cho chị sinh hoạt gia đình và nuôi con; vợ chồng chị tuy sống chung nhà nhưng đã không ngủ chung, ăn uống chung, thân ai nấy lo từ khoảng hơn 01 năm nay. Giữa chị và anh Nguyễn Đức H không thể tìm được tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L xác định vợ chồng chị không còn tình cảm yêu thương dành cho nhau nữa nên chị L đề nghị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị L trình bày, chị và anh H có 01 con chung Nguyễn Phúc T, sinh ngày 22/07/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị L có sinh thêm 01 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 19/01/2023. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung; tạm thời chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền cho chị nuôi con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Chị L cam kết vợ chồng không có nợ chung.

* Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử anh Nguyễn Đức H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Đức H. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Mỹ L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là Nguyễn Phúc T, sinh ngày 22/07/2019 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 19/01/2023; tạm thời chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền cho chị nuôi con chung. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự:

Chị Phạm Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Đức H hiện đang cư trú tại: Đường QT 19, ấp QB, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai và tranh chấp ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Chị Phạm Thị Mỹ L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về yêu cầu xin ly hôn:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Đức H là hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 5, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã kêu gọi chị Phạm Thị Mỹ L đoàn tụ với anh Nguyễn Đức H nhưng chị L vẫn cương quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay chị không còn tình cảm yêu thương dành cho anh H nữa.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Đức H đến Tòa án để làm việc, vận động hàn gắn đoàn tụ giữa chị L, anh H nhưng anh H không chấp hành, cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng, chứng tỏ anh H cũng không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân của anh chị.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Đức H đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Đức H.

2.2. Về con chung:

Chị Phạm Thị Mỹ L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 2 con chung Nguyễn Phúc T, sinh ngày 22/07/2019 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 19/01/2023. Anh Nguyễn Đức H không có tranh chấp về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Hiện tại, cháu Nguyễn Phúc T và cháu Nguyễn Hoàng Bảo N đều đang ở cùng với chị L. Do đó, tiếp tục giao cho chị Phạm Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Nguyễn Phúc T và Nguyễn Hoàng Bảo N là đảm bảo việc phát triển toàn diện cho con và phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị Phạm Thị Mỹ L tạm thời không yêu cầu anh Nguyễn Đức H phải cấp dưỡng tiền cho chị L nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Đức H không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.4. Về nợ chung: Chị Phạm Thị Mỹ L trình bày không có, anh Nguyễn Đức H không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Phạm Thị Mỹ L phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mỹ L:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Đức H.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Nguyễn Phúc T, sinh ngày 22/07/2019 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 19/01/2023.

Tạm thời, chị Phạm Thị Mỹ L không yêu cầu anh Nguyễn Đức H phải cấp dưỡng tiền cho chị L nuôi con chung.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Nguyễn Đức H.

Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ L phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001792 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Phạm Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ