vanban.org

Bản án 54/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị D được ly hôn với Trần Văn B.

Về con chung và cấp dưỡng: Nguyễn Thị D được quyền tiếp tục nuôi con là Trần Quốc Kỳ và Trần Thị Như Ý. Trần Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con. Nguyễn Thị D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Trần Văn B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị D được ly hôn với Trần Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-05-2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển;

Bà Quang Kim Cúc.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 31 tháng 05 năm 2023 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14/04/2023, “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 05 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị D - sinh năm: 1978; HKTT: 249/4, ấp LH, xã LH huyện LV, tỉnh ĐT;

Tạm trú: 161A/3, ấp LH, xã LH huyện LV tỉnh ĐT;

2. Bị đơn: Trần Văn B - sinh năm: 1977; HKTT: 249/4, ấp LH, xã LH huyện LV, tỉnh ĐT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị D trình bày:

Năm 1995, Nguyễn Thị D với Trần Văn B quen biết nhau thông qua mai mối và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn ngày 12/11/2001 tại UBND xã LH, huyện LV, tỉnh ĐT; Quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên cải nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cự cải, anh Bắc có tính gia trưởng, độc đoán, bạo lực gia đình, có nhiều lần anh Bắc đánh Nguyễn Thị D, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, địa phương hòa giải nhiều lần để vợ chồng hàn gắn tình cảm và Nguyễn Thị D cũng đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng suy nghĩ lại rút đơn nhưng vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân hơn 03 tháng nay, trong thời gian chờ Tòa án lập biên bản hòa giải ngày 04/5/2023 anh Bắc có hành vi đe dọa, ném tàn thuốc đang cháy vào người Nguyễn Thị D và đến nơi Nguyễn Thị D làm thuê có lời lẽ không hay gây khó khăn cho công việc của chị Diệu, Nguyễn Thị D nhất quyết yêu cầu được ly hôn với Trần Văn B.

Về con chung có 04 con chung tên Trần Mộng Tường, sinh ngày: 27/9/1996, Trần Thị Tiểu Vi, sinh ngày: 03/02/2000, Trần Quốc Kỳ, sinh ngày: 01/8/2005 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày: 26/9/2009. Nguyễn Thị D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con là Trần Quốc Kỳ và Trần Thị Như Ý, không yêu cầu Trần Văn B cấp dưỡng nuôi con, Trần Mộng Tường và Trần Thị Tiểu Vi đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Nguyễn Thị D không yêu cầu giải quyết

* Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Trần Văn B trình bày:

Nguyễn Thị D với Trần Văn B quen biết nhau thông qua mai mối và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn ngày 12/11/2001 tại UBND xã LH, huyện LV, tỉnh ĐT; Quá trình sống chung vợ chồng cải nhau có phát sinh nhiều mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cự cải, trong lúc cải nhau do nóng giận nên Trần Văn B có dùng tay đánh trúng nhẹ vào mặt của Trần Thị Diệu. Trần Văn B không đồng ý ly hôn muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để cùng lo cho con, vợ chồng sống ly thân hơn 03 tháng nay, anh Bắc nhiều lần khuyên muốn vợ về sống chung nhưng chị Diệu nhất quyết không đồng ý.

Về con chung vợ chồng có 04 con chung tên Trần Mộng Tường, sinh ngày: 27/9/1996, Trần Thị Tiểu Vi, sinh ngày: 03/02/2000, Trần Quốc Kỳ, sinh ngày: 01/8/2005 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày: 26/9/2009. Trần Văn B đồng ý theo yêu cầu của Nguyễn Thị D được tiếp tục nuôi 02 con là Trần Quốc Kỳ và Trần Thị Như Ý; Trần Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con. Trần Mộng Tường và Trần Thị Tiểu Vi đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung khi ly hôn: Trần Văn B không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyễn Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa Nguyễn Thị D với Trần Văn B, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Nguyễn Thị D với Trần Văn B tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau và đã ly thân hơn 03 tháng nay, Trần Văn B cho rằng còn thương vợ con không muốn ly hôn nhưng Trần Văn B có hành vi bạo lực gia đình, có những lời lẽ không hay hâm dọa Nguyễn Thị D và hơn 03 tháng nay Trần Văn B không có biện pháp hay hành động để hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng thường xuyên cải nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng Nguyễn Thị D vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với Trần Văn B không muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị D với Trần Văn B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên Nguyễn Thị D yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn Thị D là có căn cứ.

[2] Về con chung: Vợ chồng có có 04 con chung tên Trần Mộng Tường, sinh ngày: 27/9/1996, Trần Thị Tiểu Vi, sinh ngày: 03/02/2000, Trần Quốc Kỳ, sinh ngày: 01/8/2005 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày: 26/9/2009. Trần Văn B đồng ý theo yêu cầu của Nguyễn Thị D được tiếp tục nuôi 02 con là Trần Quốc Kỳ và Trần Thị Như Ý; Trần Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét sự thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Trần Mộng Tường và Trần Thị Tiểu Vi đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Trần Văn B không trực tiếp nuôi con, phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Nguyễn Thị D không yêu cầu Trần Văn B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Nguyễn Thị D và Trần Văn B không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Nguyễn Thị D và Trần Văn B không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị D được ly hôn với Trần Văn B.

2. Về con chung và cấp dưỡng: Nguyễn Thị D được quyền tiếp tục nuôi con là Trần Quốc Kỳ và Trần Thị Như Ý. Trần Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Nguyễn Thị D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Trần Văn B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà Nguyễn Thị D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0015817, ngày 12/04/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị D đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/05/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ