- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Kim H - Đặng Thanh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Kim H được ly hôn với anh Đặng Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-5-2023 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Kim Ánh
Bà Lương Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 500/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Thị Kim H - sinh năm 1990 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp 1, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Anh Đặng Thanh T - sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp 1, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2022, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn chị Thị Kim H như sau:
Vào năm 2006 chị và anh T quen biết, tìm hiểu nhau được một thời gian ngắn thì anh chị có tổ chức đám cưới vào năm 2006 và anh chị có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang ngày 19/7/2016. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được khoảng hơn ba năm là nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không quan tâm gia đình, anh T còn thường xuyên uống rượu say xỉn về chửi vợ con, thậm chí anh T còn đánh chị nhiều lần. Sau mỗi lần anh T đánh chị thì chị cũng đã khuyên can anh T nhiều lần với mong muốn là anh T sửa đổi tính tình vì chị thương con và chị đã cố gắng nhẫn nhịn anh T để duy trì hôn nhân. Tuy nhiên, anh T đã không nhìn nhận khuyết điểm mà anh T còn bỏ nhà đi từ năm 2021 đến nay, từ khi anh T bỏ đi đến nay anh T không về nhà nên chị và anh T đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị đã suy nghĩ rất kỹ về hôn nhân của chị và anh T là không thể hàn gắn lại được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Chị và anh T có hai người con chung tên Thị X, sinh ngày 01/5/2009 và Thị L, sinh ngày 17/6/2011, hai con là được chị trực tiếp nuôi dưỡng từ khi anh T bỏ đi năm 2021 đến nay. Chị xác định chị và anh T không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thanh T. Về con chung chị H yêu cầu được nuôi hai con chung Thị X, sinh ngày 01/5/2009 và Thị L, sinh ngày 17/6/2011; chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không có và nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Đặng Thanh T không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng anh T không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp cho chị Thị Kim H được ly hôn với anh Đặng Thanh T. Về con chung giao hai con chung Thị X, sinh ngày 01/5/2009 và Thị L, sinh ngày 17/6/2011 cho chị H được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung chị H không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh Đặng Thanh T, yêu cầu nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại ấp 1, xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án nhân dân huyện Gò Quao xác định quan hệ pháp luật “ly hôn, yêu cầu nuôi con” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Anh T với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh T vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
Về nội dung: Về hôn nhân chị H và anh T quen biết, tìm hiểu nhau được một thời gian ngắn rồi anh chị tổ chức đám cưới với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân Vĩnh Hòa Hưng Nam, huyện Gò Quao số 124 vào ngày 19/7/2016 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị H được ly hôn với anh T vì lý do anh T không quan tâm gia đình, anh T còn thường xuyên uống rượu say xỉn về chửi vợ con, thậm chí anh T còn đánh chị nhiều lần. Sau mỗi lần anh T đánh chị thì chị cũng đã khuyên can anh T nhiều lần với mong muốn là anh T sửa đổi tính tình để duy trì hôn nhân. Tuy nhiên, anh T đã không nhìn nhận khuyết điểm mà anh T còn bỏ nhà đi từ đầu năm 2021 đến nay, từ khi anh T bỏ đi đến nay anh T không về nhà nên chị và anh T đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Đối với anh T, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh T đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị H khai rõ trong thời gian ly thân chị và anh T không gặp nhau và cũng không liên lạc với nhau nên không thể hàn gắn đời sống hôn nhân được nữa và chị cũng không còn tình cảm với anh T, chị H cương quyết muốn được ly hôn với anh T. HĐXX thấy rằng, trong thời gian chung sống giữa chị H và anh T đã phát sinh nhiều sự bất đồng, cả hai người không kiềm chế được cá tính của mình nên đã nhiều lần xảy ra việc cãi nhau, thậm chí anh T còn có hành vi bạo lực gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và cả hai người đã sống ly thân với nhau thời gian dài; từ đó dẫn đến không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp.
Về con chung: Chị H khai vợ chồng chị có hai người con chung tên Thị X, sinh ngày 01/5/2009 và Thị L, sinh ngày 17/6/2011. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con. Xét thấy từ khi anh chị ly thân đến nay, hai con sống chung với chị H và hiện vẫn phát triển bình thường về mọi mặt; hơn nữa, hai con có nguyện vọng được sống chung với mẹ nên yêu cầu của chị H là phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật, do đó HĐXX chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định vợ chồng chị không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Đối với bị đơn anh T, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy anh T vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh T theo quy định nhưng anh T vẫn không có mặt không có lý do và anh T cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của anh.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí bằng 300.000 đồng chị H phải nộp do chị có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 5 Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị Kim H được ly hôn với anh Đặng Thanh T.
2. Về con chung: Giao Thị X, sinh ngày 01/5/2009 và Thị L, sinh ngày 17/6/2011 cho chị Thị Kim H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn yêu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng: Miễn xét
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thị Kim H phải nộp án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001898 ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, Chị H đã nộp xong án phí HNST.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 25/5/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA Gò Quao; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Danh Thị Kiều Oanh |